vanban.org

Bản án 10/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Hà Mđối với anh Hoàng Đỗ V. Chị Nguyễn Thị Hà Mđược ly hôn với anh Hoàng Đỗ V.

Giao cho chị Nguyễn Thị Hà Mcó trách nhiệm trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Hoàng Minh Ph, sinh ngày 13/5/2015 cho đến khi đủ 18 tuổi. Anh Hoàng Đỗ V không phải cấp dưỡng cho con; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về tài sản chung, nợ chung:…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn My - Việt"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Hà Mđối với anh Hoàng Đỗ V. Chị Nguyễn Thị Hà Mđược ly hôn với anh Hoàng Đỗ V.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẨM PHẢ
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2019/HNGĐ-ST
Ngày 10/4/2019
“V/v Tranh chấp về ly hôn ,
nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Tơn

2. Bà Bùi Thị Kim Loan

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Trƣơng Thị Năm – Kiểm sát viên.

Trong ngày 10/4/2019, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 525/2018/TLST-HNGĐ ngày 28/12/2018 về việc: “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/3/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hà My, sinh năm 1993;

Nơi ĐKNKTT: Tổ 114, khu 8B, phường Cẩm Phú, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh;

Chỗ ở hiện nay: Số nhà 36, đường Hoàng Quốc Việt, phường Cẩm Sơn, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh;

Nghề nghiệp: Nhân viên – Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế Việt Nam-Chi nhánh Cẩm Phả – Phòng giao dịch Cửa Ông, có mặt.

2. Bị đơn: Anh Hoàng Đỗ V, sinh năm 1989;

Nơi ĐKNKTT: Tổ 114, khu 8B, phường Cẩm Phú, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh;

Nghề nghiệp: Công nhân - Công ty Cảng – Tổng công ty Đông Bắc, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 01/10/2018 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hà Mtrình bày: Tôi và anh Hoàng Đỗ V xây dựng gia đình với nhau từ năm 2014, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Cẩm Phú, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh ngày 04/11/2014, trên cở tự nguyện, trước khi kết hôn có thời gian tìm hiểu nhau khoảng 2 năm. Sau khi kết hôn vợ chồng sống chung cùng bố mẹ anh Việt tại tổ 114, khu 8B, phường Cẩm Phú, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc bình thường đến tháng 8/2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu do tôi và anh Việt bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung trong mọi vấn đề của cuộc sống. Vì việc này tôi và anh Việt đã nhiều lần xô xát, bản thân tôi cũng to tiếng tranh cãi. Tôi và anh Việt đã nhiều lần tự khắc phục mâu thuẫn nhưng chỉ được một thời gian ngắn, tôi và anh Việt đã sống ly thân được hơn một. Mâu thuẫn của chúng tôi đã được hai bên gia đình và khu phố hòa giải nhưng tôi xét thấy không còn tình cảm đối với anh Việt nữa nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Việt để ổn định cuộc sống. Tôi và anh Việt có một con chung là Hoàng Minh Ph, sinh ngày 13/5/2015, từ khi sống ly thân, con chung ở với anh Việt và bố mẹ anh Việt. Tôi rất muốn đón con về ở cùng với tôi tại nhà bố mẹ tôi nhưng anh Việt không đồng ý nên tôi không đưa con đi cùng được mà chỉ thường xuyên về thăm con nhưng mỗi lần thăm con hay muốn đưa con về nhà bố mẹ tôi chơi hoặc đưa con đi đâu chơi đều phải hỏi ý kiến của anh Việt (nhiều lần anh Việt không đồng ý, tôi không được đón con), tôi chờ Tòa án quyết định. Khi Tòa án giải quyết cho tôi và anh Việt ly hôn, tôi xin trực tiếp được nuôi con vì con chung là con gái mới gần 4 tuổi rất cần sự chăm sóc chu đáo và tình cảm của mẹ. Về điều kiện nuôi dưỡng của tôi hiện nay sẽ tốt hơn anh Việt, tôi chỉ làm việc vào giờ hành chính, không phải đi làm ca và lúc có công việc đột suất thì có mẹ tôi trông nom, chăm sóc giúp tôi giống như bố mẹ anh Việt. Tôi không đồng ý để anh Việt tiếp tục nuôi dưỡng con chung vì anh Việt không thể chăm sóc con bằng tôi được, anh Việt phải đi làm ca, mọi việc chăm sóc con đều do bố mẹ anh Việt, sau này con đi học tiểu học thì tôi phải trực tiếp dậy bảo, kèm con học và cho con đi học thêm các lớp về năng khiếu,....Tôi được quyền nuôi con, tôi không yêu cầu anh Việt cấp dưỡng cho con, hiện nay tôi đang chuyển công tác tại phòng giao dịch Cửa Ông thuộc Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam – Chi nhánh Cẩm Phả, thu nhập bình quân khoảng 8.000.000 đồng/tháng. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Tại bản tự khai ngày 18/01/2019 và trong quá trình xét xử, bị đơn anh Hoàng Đỗ V trình bày: Tôi kết hôn với chị Nguyễn Thị Hà Mtừ năm 2014, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Cẩm Phú, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở tự nguyện, trước khi kết hôn có thời gian tìm hiểu nhau khoảng một năm. Sau khi kết hôn, vợ chồng về sống chung với bố mẹ tôi tại tổ 114, khu 8B, phường Cẩm Phú, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc được 2 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không có tiếng nói chung, hay cãi vã nhiều lần đã đánh nhau. Tôi thấy bản thân mình là người có lỗi trong việc phát sinh mâu thuẫn, tôi đã cố gắng khắc phục nhưng chị My không đồng ý. Tôi và chị My đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay, mâu thuẫn của chúng tôi đã được khu phố và trung tâm hòa giải, đối thoại tại Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả hòa giải nhưng chị My vẫn quyết định xin ly hôn nên tôi đồng ý. Về con chung: Tôi và chị My có một con chung là Hoàng Minh Ph, sinh ngày 13/5/2015. Từ khi tôi và chị My sống ly thân, con chung ở với tôi và bố mẹ tôi. Khi ly hôn, tôi xin được tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu chị My cấp dưỡng cho con. Hiện nay tôi đang làm công nhân lái máy xúc của Công ty Cảng – Tổng công ty Đông Bắc thu nhập bình quân từ 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng/tháng, về các điều kiện khác: Nhà ở có sân, vườn, xung quanh có nhiều bạn cùng lứa tuổi với con tôi cùng chơi, con tôi hiện nay đang học trường mầm non Cẩm Phú, được tôi và bố mẹ tôi chăm sóc khỏe mạnh, dạy dỗ cẩn thận và phát triển tốt. Tôi không đồng ý để chị My nuôi con vì chị My không có điều kiện thời gian chăm sóc con, toàn để cho người khác chăm con, đi làm suốt ngày đến đêm mới về. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán; Hội đồng xét xử đã tiến hành các thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hà My, quan điểm của bị đơn anh Hoàng Đỗ V. Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả nhận thấy có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị My; không chấp nhận quan điểm của anh Việt về yêu cầu xin được trực tiếp nuôi con chung. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Cuộc hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Hà Mvà anh Hoàng Đỗ V là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Cẩm Phú, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh ngày 04/11/2014, trên cở tự nguyện. Vợ chồng đã có thời gian sống hạnh phúc đến cuối năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn như chị My và anh Việt trình bày nêu trên, chị My không còn tình cảm với anh Việt nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn để ổn định cuộc sống, anh Việt đồng ý ly hôn với chị My. Chị My và anh Việt có một con chung là Hoàng Minh Ph, sinh ngày 13/5/2015. Chị My và anh Việt đều có quan điểm: Khi ly hôn thì cả chị My và anh Việt đều có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu cấp dưỡng cho con và đưa ra quan điểm, lý do xin được trực tiếp nuôi con chung như nêu trên. Về tài sản chung, nợ chung: Cả chị My và anh Việt đều xác định là không có.

Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả đã tiến hành thu thập chứng cứ tại nơi chị My và anh Việt cư trú trước khi sống ly thân, được đại diện khu phố cung cấp thông tin về tình trạng hôn nhân của chị My và anh Việt về cơ bản như chị My và anh Việt trình bày nêu trên.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như nêu trên, đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, căn cứ quy định tại các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa chị My và anh Việt đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị My đối với anh Việt. Đối với quan điểm của các đương sự về phần con chung như nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của các đương sự vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con. Xét về điều kiện nuôi dưỡng con của các đương sự thì thấy: Cả chị My và anh Việt hiện nay đều có việc làm và mức thu nhập ổn định nhưng anh Việt phải đi làm ca; về nhà ở đều đang ở cùng bố mẹ đẻ; về điều kiện để trông nom, chăm sóc con thì với độ tuổi và giới tính con chung của chị My và anh Việt là con gái mới được gần 4 tuổi thì cần được bố hoặc mẹ là người trực tiếp nuôi con sẽ đảm bảo cuộc sống cho con chung về mọi mặt hơn là để cho ông bà trực tiếp chăm sóc. Từ khi vợ chồng sống ly thân, chị My muốn đưa con đi cùng nhưng anh Việt không đồng ý, chị My chấp nhận để anh Việt nuôi con vì chưa có quyết định của Tòa án; chị My vẫn thường xuyên qua lại thăm con, có trách nhiệm với con nên Hội đồng xét xử có cơ sở để chấp nhận yêu cầu xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của chị My, không chấp nhận yêu cầu xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của anh Việt. Chị My không yêu cầu anh Việt cấp dưỡng cho con nên không đề cập. Về tài sản chung, nợ chung: Chị My và anh Việt đều xác định là không có nên không đề cập.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hà Mphải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Hà Mđối với anh Hoàng Đỗ V. Chị Nguyễn Thị Hà Mđược ly hôn với anh Hoàng Đỗ V.

Giao cho chị Nguyễn Thị Hà Mcó trách nhiệm trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Hoàng Minh Ph, sinh ngày 13/5/2015 cho đến khi đủ 18 tuổi. Anh Hoàng Đỗ V không phải cấp dưỡng cho con; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hà Mphải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị My đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004337 ngày 28/12/2018 của Chi cục Thi thành án dân sự thành phố Cẩm Phả. Chị My đã nộp đủ án phí.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt các đương sự, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ