vanban.org

Bản án 10/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 24/04/2019 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chau - Thuy"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
Tßa ¸n nh©n d©n
TỈNH K

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Baûn aùn soá: 10/2019/HNGĐ-ST
Ngaøy: 24/04/2019
V/v: “ Ly hôn”

NHAÂN DANH

NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM

TOØA AÙN NHAÂN DAÂN TỈNH K

Vôùi thaønh phaàn Hoäi ñoàng xeùt xöû sô thaåm goàm coù :

- Thaåm phaùn - Chuû toïa phieân toøa: Baø Lâm Vương Mỹ Linh

- Các Hoäi thaåm nhaân daân: Ông Phạm Văn Tuất

Ông Trần Văn Lý

- Thö kyù Toà án ghi bieân baûn phieân toaø: Bà Lê Thị Quỳnh Trang – Thư ký Toøa aùn nhaân daân tỉnh K

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh K tham gia phiên tòa: Ông Bùi Hồng Nam - Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 4 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh K tiến hành môû phieân toøa xét xử sơ thẩm coâng khai vuï aùn hôn nhân gia đình thuï lyù soá 44/2018/ HNGÑ/ST ngaøy 06/6/2018 veà vieäc “Ly hôn”, theo quyeát ñònh ñöa vuï aùn ra xeùt xöû soá 06/2019/QÑXXST-HNGÑ ngaøy 04/3/2019 giöõa caùc ñöông söï :

* Nguyeân ñôn: Bà Lê Thị Ngọc C - sinh năm: 1969

Địa chỉ thường trú: 24/4 NM, phường P, thành phố N, tỉnh K

Địa chỉ liên hệ: 103/1A TND, thành phố N, tỉnh K

Coù maët tại phiên tòa.

ô

* Bò ñôn: Ông Ha Hung T - sinh năm: 1954

Địa chỉ: 100 Grandville Ave T, Ontorio M6N4U2, C

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc C trình bày:

Bà và ông Ha Hung T tự nguyện kết hôn vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân tỉnh K. Sau khi vợ chồng ông bà đăng ký kết hôn thì ông Ha Hung T trở về C và mất liên lạc từ đó cho đến nay, bà đã nhiều lần cố gắng tìm mọi cách để liên lạc với ông Ha Hung T nhưng không có kết quả. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Ha Hung T.

Về con chung: Bà và ông Ha Hung T không có con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà C không yêu cầu tòa án giải quyết.

Tòa án nhân dân tỉnh K đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đến bị đơn là ông Ha Hung T nhưng bị đơn không trả lời văn bản tố tụng của Tòa án. Tòa án đã có văn bản yêu cầu Đại sứ quán Việt Nam tại C thông báo trên cổng thông tin điện tử của cơ quan đại diện ngoại giao tại C, thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án cho ông Ha Hung T về việc tham gia tố tụng và tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng nói trên tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh K nhưng ông Ha Hung T vắng mặt, đồng thời không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án, do đó Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai cũng như không thể tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh K phát biểu ý kiến về vụ án như sau:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về quyền, nghĩa vụ của đương sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điều 51, điều 56 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Lê Thị Ngọc C được ly hôn ông Ha Hung T. Về con chung: bà Lê Thị Ngọc C và ông Ha Hung T không có con chung. Về tài sản chung và nợ chung, đương sự không yêu cầu nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các bên đương sự được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân tỉnh K đã tiến hành thủ tục ủy thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Ha Hung T và tống đạt thông qua đường dịch vụ bưu chính đến người nhận là bị đơn. Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai văn bản tố tụng tại trụ sở Đại sứ quán Việt Nam tại C, trụ sở Tòa án và thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án, Cổng thông tin điện tử của Đại sứ quán Việt Nam tại C theo quy định tại Điều 474, Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử sơ thẩm quyết định xét xử vắng mặt ông Ha Hung T.

Về nội dung vụ án:

Bà Lê Thị Ngọc C và ông Ha Hung T tự nguyện đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân tỉnh K cấp giấy chứng nhận kết hôn số 130 ngày 24/3/2011. Đây là hôn nhân hợp pháp.

Theo trình bày của bà Lê Thị Ngọc C, cuộc sống hôn nhân giữa bà và ông Ha Hung T không hạnh phúc, từ sau khi đăng ký kết hôn đến nay, ông Ha Hung T trở về C và cắt đứt liên lạc với bà, giữa hai bên không còn sự kết nối, sẻ chia về tình cảm. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa vợ chồng bà C và ông Ha Hung T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; yêu cầu xin ly hôn của bà C là có căn cứ, phù hợp với điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Bà Lê Thị Ngọc C và ông Ha Hung T không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Bà Lê Thị Ngọc C phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYEÁT ÑÒNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 464, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điều 51, điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, bà Lê Thị Ngọc C được ly hôn ông Ha Hung T.

2. Về con chung: Bà Lê Thị Ngọc C và ông Ha Hung T không có con chung.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

4. Về án phí: Bà Lê Thị Ngọc C phải nộp 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2016/0000572 ngày 05/6/2018 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh K. Bà C đã nộp đủ án phí.

Nguyên đơn – bà Lê Thị Ngọc C được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn – ông Ha Hung T được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 1 tháng kể từ bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

N¬i nhËn:

Cỡ chữ