vanban.org

Bản án 10/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Văn H

Buộc ông Nguyễn Thanh L có trách nhiệm trả cho ông Bùi Văn H số tiền vốn, lãi là 133.990.000 đồng (Một trăm ba mươi ba triệu chín trăm chín mươi ngàn đồng) Buộc ông Bùi Văn H có trách nhiệm trả lại cho ông Nguyễn Thanh L 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02481 do UBND huyện Thoại Sơn cấp ngà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Văn H
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số:10/2019/DS-ST
Ngày: 23/4/2019
V/v tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN - AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Triều Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Trần Đức

2. Bà Lê Thị Thường

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Cẩm Xuyên - Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn: Không tham gia phiên toà.

Trong ngày 23 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 166a/2018/TLST- DS ngày 03/12/2018 về "Tranh chấp dân sự - Hợp đồng vay tài sản" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2018/QĐXXST-DS ngày 15/3/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Bùi Văn H, sinh năm 1966 (có mặt)

Cư trú: Ấp Hòa Phú, xã Định Thành, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1983 (vắng mặt)

Cư trú: Ấp Hòa Long, xã Định Thành, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn ông Bùi Văn H trình bày: Vào ngày 07/02/2017, ông Nguyễn Thanh L có hỏi vay của tôi số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) để mua máy phục vụ sản xuất nông nghiệp. Khi vay có làm biên nhận nợ thỏa thuận lãi suất 2% một tháng, thời hạn vay là 12 tháng và có thế chấp 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02481 do UBND huyện Thoại Sơn cấp ngày 14/9/2015 mang tên Nguyễn Thanh L. Sau khi vay, ông L đóng lãi được 5 tháng với số tiền 10.000.000 đồng. Đến nay không trả thêm khoản nào khác.

Nay tôi yêu cầu ông Nguyễn Thanh L có trách nhiệm trả cho tôi số tiền vốn 100.000.000 đồng và tính lãi suất theo quy định pháp luật.

Về phía bị đơn ông Nguyễn Thanh L: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng ông L vắng mặt và cũng không có văn bản nào thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của ông Bùi Văn H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, ông Nguyễn Thanh L vắng mặt, Tòa án đã triệu tập hợp lệ hai lần. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông L.

Về nội dung: Hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn ông Bùi Văn H với bị đơn ông Nguyễn Thanh L thực tế có xảy ra nó được chứng minh bằng tờ biên nhận nợ. Tại tờ biên nhận nợ ngày 07/02/2017 có nội dung: “Tôi tên Nguyễn Thanh L, sinh năm 1983; tôi có hỏi mượn 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) tôi có thế chấp bằng khoán sử dụng đất (137,4m2) với lãi suất 2%/tháng. Thời hạn vay 12 tháng, nếu sau này trong 12 tháng tôi không có trả tôi sẽ giao bằng khoán đất 137,4m2 lại cho chú tư Hoàng bằng 100.000.000 đồng”

Nhận thấy trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông L nhưng ông L không có văn bản nào thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn. Do vậy, căn cứ vào tờ biên nhận nợ ngày 07/02/2017 do ông L ký buộc ông L có trách nhiệm trả cho ông H số tiền vốn 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).

Về lãi suất: Ngoài yêu cầu trả vốn, ông H yêu cầu tính lãi theo quy định của pháp luật là có căn cứ. Tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác”.

“Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực”

Xét thấy tại Tờ biên nhận nợ ngày 07/02/2017 hai bên thỏa thuận lãi suất 2%/ tháng, với mức lãi suất thỏa thuận này là cao so với quy định pháp luật (không được vượt quá 1,66%/tháng), nên cần điều chỉnh lại lãi suất như sau:

Vay 100.000.000 đồng từ ngày 07/02/2017 đến ngày xét xử sơ thẩm (23/4/2019) là 26,5 tháng.

100.000.000 đồng x 1,66% x 26,5 tháng = 43.990.000 đồng

Tại phiên tòa, ông H khai sau khi vay ông L đóng lãi được 05 tháng với số tiền 10.000.000 đồng, nên được khấu trừ.

43.990.000 đồng - 10.000.000 đồng = 33.990.000 đồng

Tổng cộng vốn, lãi: 100.000.000 đ + 33.990.000 đồng = 133.990.000 đồng

Trong vụ án này, khi vay ông L có thế chấp cho ông H 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Xét thấy, việc ông H nhận thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông L là không đúng với quy định pháp luật, nên cần tuyên buộc ông H có trách nhiệm trả lại cho ông L Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do ông L bị buộc trả nợ, nên phải chịu án phí 5% trên số tiền phải trả.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 177, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH.14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Văn H

- Buộc ông Nguyễn Thanh L có trách nhiệm trả cho ông Bùi Văn H số tiền vốn, lãi là 133.990.000 đồng (Một trăm ba mươi ba triệu chín trăm chín mươi ngàn đồng)

Buộc ông Bùi Văn H có trách nhiệm trả lại cho ông Nguyễn Thanh L 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02481 do UBND huyện Thoại Sơn cấp ngày 14/9/2015 mang tên Nguyễn Thanh L (bản chính)

Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Nguyễn Thanh L phải chịu 6.699.500 đồng (Sáu triệu sáu trăm chín mươi chín ngàn năm trăm đồng)

- Ông Bùi Văn H không phải chịu án phí nên được hoàn lại số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009100, ngày 03 tháng 12 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở UBND xã, thị trấn nơi đương sự cư trú để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ