- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyên đơn: Dương Thị Hòa; bị đơn: Hoàng Thị Bình"
- Tòa quyết gì? Căn c : khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự; chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái; sửa bản án dân sự sơ thẩm số 13/2018/DS-ST ngày 28/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái.
- Căn cứ chính? Điều 163 Bộ luật Dân sự; Điều 164 Bộ luật Dân sự; Điều 166 Luật Đất đai
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2019/DS-PT Ngày: 17 - 4 - 2019 "V/v Tranh ch p về quyền sở hữu tài sản là quyền sử dụng đ t" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
Th nh ph n H
n
phúc h
c :
Thẩm phán - h t a phiên tòa: Ông Ngô Văn Thắng
ác Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Vƣơng
Bà Phạm Thị Hƣơng Giang
Thư ký ph ên o : Bà Lê Minh Chi – Thƣ ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
Đạ d ện V ện k ể sá nhân dân ỉnh Quản N nh ha
a ph ên òa: Bà Nguyễn Thị Thu Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 17/4/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 06/2019/TLPT-DS ngày 14 tháng 01 năm 2019, về “Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản là quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2018/DS-ST ngày 28/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái bị kháng nghị.
Theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 18/2019/QĐ-PT ngày 22 tháng 3 năm 2019, giữa các đƣơng sự:
- Nguyên đơn: Bà Dƣơng Thị H, sinh năm 1964; Địa chỉ: Khu 7, phƣờng H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Hoàng Thị B, sinh năm 1943; Cƣ trú tại: Khu 4, phƣờng H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Viện kiểm sát kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 19/6/2018, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Dƣơng Thị H trình bày: Năm 2014, bà có nhờ ông Nguyễn Văn B tìm mua hộ cho bà 01 thửa đất. Sau đó ông B nói đã tìm đƣ c 01 thửa đất tại khu 4, phƣờng H của ông Nguyễn Văn Q (đất đ ng tên bà Nguyễn Thị Th do ông Q và bà Th mua chung) bán với giá 390 triệu đồng, bà nhất tr . Bà đã đƣa tiền cho ông B giao dịch mua bán với ông Q, bà Th. Trƣớc khi mua bán bà có đến gặp ông Q, bà Th và đƣ c biết trên đất có 01 ngôi nhà cấp 4, ông Q bảo là nhà ông Q cho bà B thuê để ở, sau đó thấy bà B hoàn cảnh nên không thu tiền thuê đất nữa. Sau khi mua đất bà đã chuyển nhƣ ng lại cho v chồng anh Tr, chị Nh với giá thỏa thuận 600.000.000đ (sáu trăm triệu đồng). Lúc này giữa bà và bà Th vẫn chƣa làm thủ tục sang tên trƣớc bạ nên bà đã thỏa thuận nhờ ký h p đồng chuyển nhƣ ng sang tên cho anh Tr và chị Nh. Tuy nhiên sau đó bà B đòi bồi thƣờng 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) tiền xây dựng nhà trên đó mới đồng ý trả đất cho anh chị Tr, Nh. Do bà B không trả đất nên anh, chị Tr, Nh làm thủ tục chuyển nhƣ ng lại đất cho bà. Nay bà đề nghị Tòa án buộc bà B phải hoàn trả lại 90m2 đất lấn chiếm của bà theo giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất đã đƣ c cấp số CB813807 số vào s cấp giấy ch ng nhận QSDĐ CH02424 do UBND thành phố Móng Cái cấp ngày 23/10/2015.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Hoàng Thị B có lời khai, quan điểm nhƣ sau: V chồng bà từ thành phố Hải Phòng ra Móng Cái làm ăn từ năm 1990, do không có nhà ở nên v chồng bà có thuê nhà ông Lê Văn Ng để ở. Sau đó ông Ng lấy lại nhà thuê để cho con trai ở thì v chồng bà trả nhà cho ông Ng. Sau đó v chồng bà thấy mảnh đất ở khu 4, phƣờng H (hiện đang có tranh chấp với bà H) không có ai ở nên tự đ đất làm nhà để ở. Khoảng đƣ c vài năm thì ông Nguyễn Ngọc Q lúc đó mới đi t về nói rằng thửa đất này là của ông Q, bà ở thì phải trả tiền thuê đất thì bà có trả cho anh Q số tiền 4.000.000đ/năm tiền thuê đất. Sau đó bà có bảo anh Q cho bà thuê đất thì phải viết giấy tờ nhƣng anh Q không viết và cũng không thu tiền thuê đất của bà nữa. Quá trình sử dụng thửa đất này bà có xây 02 gian nhà đều bằng gạch ba banh, 01 gian có diện t ch khoảng 40m2 xây từ năm 1990 để v chồng ở, gian nhà th 2 xây làm bể ch a nƣớc và để xe đạp có diện t ch khoảng 20m2 xây cách đó vài năm. Nếu bà H có đầy đủ giấy tờ pháp lý về quyền sở hữu thửa đất này thì bà đồng ý trả đất cho bà H với điều kiện bà H phải bồi thƣờng cho bà số tiền từ 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng) đến 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng).
Những ngƣời làm ch ng có lời khai:
- Bà Nguyễn Thị Th khai: Nguồn gốc thửa đất bà H và bà B đang có tranh chấp là của ông Lê Văn Ng khai hoang từ năm 1991. Năm 2000, ông Ng nhƣ ng lại cho bà và ông Q với giá 5.000.000đ (năm triệu đồng). Khi làm thủ tục chuyển nhƣ ng ông Ng nói nhà trên đất đang cho v , chồng bà B thuê, khi nào có nhu cầu xây thì s thông báo lại cho bà B. Năm 2007, bà đƣ c cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số AG 706676 do UBND thị xã Móng Cái cấp ngày 15/6/2007, tuy nhiên do thửa đất trên nằm trong danh sách 268 hồ sơ phƣờng H phải xét duyệt cấp lại nên bà phải nộp thêm khoảng 50 triệu đồng tiền thuế và ngày 26/3/2012 bà đƣ c UBND thành phố Móng Cái cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số BI 231368. Sau khi mua đất của ông Ng, bản thân bà và ông Q thƣơng bà B già nên vẫn đồng ý để cho ông, bà ở nhờ, việc bà B tự ý xây nhà tạm bằng gạch ba banh để ở bà hoàn toàn không biết. Năm 2014, khi bà nhƣ ng đất cho bà H thì cũng thông báo cho bà B biết, nay bà khẳng định thửa đất này bà đã chuyển nhƣ ng cho bà H và thuộc quyền quản lý sử dụng của bà H.
- Ông Nguyễn Văn B có lời khai thể hiện: Năm 2014, ông đƣ c bà H nhờ tìm thửa đất tại khu 4, phƣờng H. Ông đã gặp và giao dịch với ông Nguyễn Văn Q để nhận chuyển nhƣ ng đối với thửa đất mang tên bà Nguyễn Thị Th với giá 390.000.000đ (ba trăm ch n mƣơi triệu đồng). Khi thực hiện việc giao dịch mua bán đất ông có đến thửa đất thì thấy có 01 ngôi nhà cấp 4 trên đất, ông Q nói với ông đây là nhà đất của ông Q cho ngƣời khác thuê nên ông tin tƣởng. Ông Q cũng nói rõ với ông là đã thông báo cho ngƣời thuê nhà biết việc ông Q bán đất, khi nào chủ mới cần lấy lại nhà thì ngƣời thuê s chuyển đi. Bản thân bà H không lấy tiền thuê nhà, đất từ ngày mua đất. Sau đó bà H thỏa thuận bán lại cho v chồng anh chị Nh, Tr và nhờ bà Th làm thủ tục sang tên cho v chồng anh chị Nh, Tr. Sau đó anh chị Nh, Tr đến thửa đất yêu cầu bà B chuyển nhà đi nhƣng bà B đòi bồi thƣờng số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) thì anh, chị Tr, Nh đã chuyển nhƣ ng lại cho bà H.
- Chị Đỗ Thị Nh có lời khai về việc nhận chuyển nhƣ ng đất giữa v chồng chị và bà Th, với bà H nhƣ lời khai của bà H, ông B nhƣ trên.
- Quá trình Tòa án giải quyết vụ án có triệu tập ông Lê Văn Ng đến Tòa án tham gia tố tụng nhƣng ông Ng không thực hiện. Tại hồ sơ hòa giải của UBND phƣờng H ông Lê Văn Ng có lời khai nhƣ sau: Năm 1989 ông từ xã V vào M xây dựng kinh tế mới thì đƣ c UBND xã H cấp đất cho làm nhà ở. Tại đây ông có khai hoang thêm 1 số thửa đất để sản xuất nông nghiệp trong đó có thửa đất hiện nay bà H đã đƣ c cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất. Năm 1999, ông có cho v chồng ở H dựng nhà tạm bằng giấy dầu để ở và bán than. Sau đó năm 2000 ông có bán lại thửa đất này cho ông Q và bà Th với giá 5.000.000đ (năm triệu đồng). Lúc này v chồng ngƣời H đã chuyển đi. Năm 2005, v chồng ông, bà T- B đang thuê nhà con trai ông là Lê N nhƣng con trai ông lấy lại nhà thuê để xây nhà thì ông bảo ông, bà T-B đến thửa đất ông đã bán cho ông Q, bà Th để ở tạm nhƣng không đƣ c xây dựng, cơi nới gì thêm. Ông có nói chuyện này với ông Q và ông Q đồng ý cho v chồng bà B ở và có thu tiền thuê đất số tiền 500.000đ/năm.
- Ông Ng có lời khai tại hồ sơ hòa giải của UBND phƣờng H thể hiện nội dung: Ông và bà Th nhận chuyển nhƣ ng thửa đất bà H đang có tranh chấp từ ông Lê Văn Ng, lúc này trên đất đã có nhà tạm (nhà tranh) vào năm 2000. Năm 2007, bà Th đƣ c cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất, tuy nhiên thửa đất trên nằm trong danh sách 268 hồ sơ đất đai của phƣờng H phải thực hiện nghĩa vụ tài ch nh nên bà Th phải nộp thêm 50 triệu đồng tiền thuế nữa và đƣ c cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất năm 2012. Năm 2014, ông thay mặt bà Th chuyển nhƣ ng thửa đất này cho bà H thông qua ông B. Ông đã đƣa ông B đến thửa đất và đƣ c ông Ng, chỉ mốc giới thửa đất. Trên đất có v chồng bà B đang ở do ông Ng cho ở nhờ, ông Ng đã thông báo với ông bà B là khi nào chủ đất lấy lại đất thì ông, bà s chuyển đi.
Kết quả trả lời công văn số 460 ngày 21/9/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, ch nh quyền địa phƣơng xác định nhƣ sau:
- Thửa đất có tranh chấp do ông Lê Văn Ng khai hoang và thuộc 268 hồ sơ vụ án đất đai phƣờng H.
- Tại thời điểm cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất, trên đất có nhà cấp 4 bà Hoàng Thị B đang sử dụng.
- Trên đất có nhà cót ép l p giấy dầu năm 1999 do ông Lê Văn Ng quản lý. Năm 2005, ông Ng cho bà B đến ở, sau đó bà B sửa chữa ngôi nhà cót ép và sử dụng n định từ đó đến nay. Ngôi nhà cấp 4 nhƣ hiện nay bà B đang ở là do bà B xây.
Tòa án đã tiến hành thẩm định, định giá đối với toàn bộ thửa đất c ng tài sản gắn liền trên đất vào ngày 17/7/2018 để bắn tọa độ thửa đất, v sơ đồ các công trình trên đất, xác định nhƣ sau:
- Về diện t ch đất và tài sản trên đất: Diện t ch đất theo giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất là 90m2. Diện t ch đất bà B đang sử dụng có diện t ch 135,5m2. Phần diện t ch đất sử dụng vƣ t quá là do bà B đã xây dựng nhà tạm và bếp trên phần đất mƣơng do UBND phƣờng H đang quản lý. Trên diện t ch đất bà B đang sử dụng có những tài sản trên đất nhƣ sau: Có 01 nhà ch nh có diện t ch 14,8m2; 01 nhà tạm có diện t ch 25,1m2; 01 nhà bếp có diện t ch 10,2m2; phần diện t ch đất nhà tạm và ph a trƣớc nhà ch nh xây dựng nằm trong hành lang đƣờng có diện t ch 15,0m2. (toàn bộ diện t ch đất và tài sản trên đất nêu trên có tọa độ các đỉnh, độ dài các cạnh nhƣ sơ đồ hiện trạng thửa đất ngày 17/7/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái).
Trên thửa đất bà H đƣ c cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất hiện nay bà B đang sử dụng có 01 rãnh nƣớc cắt ngang qua thửa đất.
- Về giá trị đất và các tài sản trên đất theo kết luận định giá ngày 17/7/2018:
+ Giá đất: 6.600.000đ/m2 x 90m2 = 594.000.000đ.
+ Giá các tài sản trên đất sau khi trừ khấu hao: 42.237.756đ.
T ng giá trị nhà, đất và công trình xây dựng, vật kiến trúc trị giá: 636.237.756đ (sáu trăm ba mƣơi sáu triệu, hai trăm ba mƣơi bảy nghìn, bảy trăm năm mƣơi sáu đồng).
Quá trình giải quyết vụ án bà B đã đƣ c thông qua kết luận định giá, bà không đồng ý với kết luận định giá tài sản trên đất là 42.237.756đ. Tòa án đã giải thích cho bà B về việc nếu không đồng ý kết quả định giá có quyền đề nghị định giá lại nhƣng bà B không có ý kiến gì về nội dung yêu cầu định giá lại. Đối với yêu cầu của bà B về việc đòi bồi thƣờng số tiền xây dựng nhà trên đất là từ 200.000.000đ đến 300.000.000đ: Tòa án đã giải th ch cho bà B về việc đây là yêu cầu phản tố và phải nộp tiền tạm ng án ph nhƣng bà B không yêu cầu và không nộp tiền mà chỉ đề nghị thanh toán số tiền trên bà s trả lại đất cho bà Hòa.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ngày 10/7/2018 bà H đã rút một phần yêu cầu khởi kiện: Không yêu cầu Tòa án phải tháo d nhà và các công trình trên đất; ngày 14/9/2018 sau khi có kết luận định giá tài sản, bà H nhất tr với kết luận định giá và s thanh toán lại số tiền trị giá nhà cho bà B với số tiền 42.237.756đ và sở hữu các tài sản trên đất.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 13/2018/DS-ST ngày 28/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, xử:
Căn c : Khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 278, khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Áp dụng: Các Điều 163, Điều 164, Điều 166, Điều 236, Điều 583, Điều 688 Bộ luật Dân sự.
Căn c : Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 2 Điều 27 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph lệ ph Tòa án.
Căn c : Điều 26 Luật thi hành án Dân sự.
1. Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Dƣơng Thị H về việc "Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản là quyền sử dụng đất".
Buộc bà Hoàng Thị B phải hoản trả lại toàn bộ thửa đất có diện t ch 90m2 đƣ c giới hạn bởi các điểm A-B-C-D-A tại khu 4, phƣờng H, thành phố M (đất đã cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số CB 813807, số vào s cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số CH 02424, do Uỷ ban nhân dân thành phố Móng Cái cấp ngày 23/10/2015) cho bà Dƣơng Thị H.
Bà Dƣơng Thị H có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền cấp lại giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất đã đƣ c xác định căn c theo tọa độ sơ đồ xem xét thẩm định tại chỗ ngày 17/7/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái (có sơ đồ tọa độ k m theo).
Giao cho bà H đƣ c quyền sở hữu, sử dụng 01 nhà ch nh có diện t ch 14,8m2; 01 nhà tạm có diện t ch 25,1m2; 01 nhà bếp có diện t ch 10,2m2. (phần diện tích đất nhà tạm và ph a trƣớc nhà ch nh xây dựng nằm trong hành lang đƣờng có diện t ch 15,0m2 bà H có trách nhiệm bàn giao lại cho nhà nƣớc khi có yêu cầu).
Bà Dƣơng Thị H có trách nhiệm thanh toán giá trị tài sản trên đất cho bà Hoàng Thị B số tiền 42.237.756đ (bốn mƣơi hai triệu, hai trăm ba mƣơi bảy nghìn, bảy trăm năm mƣơi sáu đồng).
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và bà Hoàng Thị B có đơn yêu cầu thi hành án mà bà Dƣơng Thị H chậm trả cho bà Hoàng Thị B đối với số tiền nêu trên khi đến hạn thì bà Dƣơng Thị H phải trả lãi đối với số tiền chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền đƣ c xác định theo thỏa thuận của các bên nhƣng không đƣ c vƣ t quá m c lãi suất đƣ c quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự; nếu không thỏa thuận đƣ c thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
2.Về án ph : Bà Dƣơng Thị H tự nguyện chịu 300.000đ tiền án ph dân sự sơ thẩm, đƣ c trừ vào số tiền tạm ng án ph 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) bà H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái theo biên lai thu tiền số 0001282 ngày 22/6/2018.
Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án.
Ngày 13 tháng 12 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái kháng nghị những nội dung sau:
- Về nội dung tuyên án: Theo quy định tại Điều 197 BLDS năm 2015 và khoản 6 Điều 13 Luật đất đai năm 2013 thì: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nƣớc đại diện chủ sở hữu; còn hộ gia đình, cá nhân chỉ đƣ c Nhà nƣớc trao quyền sử dụng đất. Theo đó, khi tuyên buộc chấp nhận đơn khởi kiện, bản án phải tuyên buộc bà B phải trả lại cho bà H quyền sử dụng toàn bộ thửa đất có diện t ch 90m2 mới ph h p. Nhƣng Bản án lại tuyên buộc bà B phải trả lại toàn bộ thửa đất có diện t ch 90m2 cho bà H là không chính xác.
Bản án giao cho bà H đƣ c quyền sở hữu, sử dụng 01 nhà ch nh có diện t ch 14,8 m2, 01 nhà tạm có diện t ch 25,1 m2, 01 nhà bếp có diện t ch 10,2 m2 nhƣng lại không nêu rõ vị tr của các tài sản; hơn nữa, tài sản này đang do bà B chiếm hữu, nếu bản án chỉ buộc bà B trả đất mà không buộc bàn giao nhà, công trình cho bà H, thì s gây khó khăn cho việc thi hành khi bản án có hiệu lực.
Sơ đồ k m theo bản án không ch nh xác với tài liệu thể hiện. Sơ đồ xác định: Ranh giới đất hộ gia đình bà H đang sử dụng đƣ c giới hạn bởi các điểm: 1-2-3-...12-1 với diện t ch S=135,5m2 là mâu thuẫn với kết quả thẩm định ngày 17/7/2018; mâu thuẫn với phần nhận định của bản án đã thể hiện: Diện t ch đất do bà B đang sử dụng là 135,5m2.
- Về áp dụng pháp luật: Mặc d bản án sơ thẩm buộc bà H phải thanh toán giá trị tài sản trên đất cho bà B số tiền 42.237.756 đồng và xác định nghĩa vụ chậm thanh toán khi thi hành án; nhƣng bản án không áp dụng Điều 357 BLDS năm 2015 là thiếu sót, vi phạm điểm c, khoản 2, Điều 266 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và việc giải quyết vụ án: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Thƣ ký chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng.
Về đƣờng lối giải quyết vụ án: Căn c khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, sửa bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên c u các tài liệu có trong hồ sơ và căn c vào kết quả tranh tụng, hỏi tại phiên tòa. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
Về tố tụng: Đây là vụ án dân sự “Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản là quyền sử dụng đất”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện. Việc thụ lý, giải quyết, xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái làm trong hạn luật định nên đƣ c xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy:
Th nhất, về nội dung tuyên án: Theo quy định tại Điều 197 BLDS năm 2015 và khoản 6, Điều 13 Luật Đất đai năm 2013, thì: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nƣớc đại diện chủ sở hữu; còn hộ gia đình, cá nhân chỉ đƣ c Nhà nƣớc trao quyền sử dụng đất. Căn c các tài liệu trong hồ sơ thấy bà Dƣơng Thị H nhận chuyển nhƣ ng quyền sử dụng đất, đƣ c Uỷ ban nhân dân thành phố Móng Cái cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất ngày 23/10/2015 với diện t ch 90m2, bà H đƣ c pháp luật bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản theo quy định tại Điều 163 Bộ luật Dân sự và đƣ c Nhà nƣớc bảo hộ khi ngƣời khác xâm phạm quyền, l i ch h p pháp về đất đai theo quy định tại Điều 166 Luật Đất đai năm 2013, nhƣng quyền sử dụng đất của bà H đang do bà Hoàng Thị B chiếm hữu không có căn c pháp luật, trên đất có các tài sản của bà B xây dựng lên. Bà H có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền, l i ch h p pháp bị xâm phạm. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận đơn khởi kiện của bà H là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm tuyên buộc bà B phải trả lại toàn bộ thửa đất có diện t ch 90m2 cho bà H là không ch nh xác, l ra phải tuyên buộc bà B phải trả lại cho bà H quyền sử dụng đất có diện t ch 90m2 mới ph h p.
Th hai, về nội dung: Bản án giao cho bà H đƣ c quyền sở hữu, sử dụng 01 nhà ch nh có diện t ch 14,8 m2, 01 nhà tạm có diện t ch 25,1 m2, 01 nhà bếp có diện t ch 10,2 m2 nhƣng lại không nêu rõ vị tr của các tài sản và không buộc bà B giao tài sản cho bà H, và trong bản án cấp sơ thẩm đã tuyên nghĩa vụ chậm thanh toán khi thi hành án, nhƣng không áp dụng Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015 là thiếu sót. Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa nội dung này.
Từ đó, thấy kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái có căn c chấp nhận. Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án theo các nội dung kháng nghị: Bà B có nghĩa vụ trả lại bà H quyền sử dụng thửa đất có diện tích 90m2 (theo giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số CB813807 số vào s cấp giấy ch ng nhận QSDĐ CH02424 do UBND thành phố Móng Cái cấp ngày 23/10/2015), buộc bà B có nghĩa vụ giao cho bà H các tài sản trên đất và cần áp dụng thêm Điều 357 Bộ luật Dân sự.
Tại phần quyết định của bản án tuyên bà Dƣơng Thị H có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền cấp lại giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất đã đƣ c xác định căn c theo tọa độ sơ đồ xem xét thẩm định tại chỗ ngày 17/7/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái (có sơ đồ tọa độ k m theo). Nội dung này mặc d không có kháng cáo, kháng nghị, nhƣng Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy: Tại sơ đồ thẩm định ngày 17/7/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái thì diện t ch đất bà B đang chiếm giữ là 135,5m2, đƣ c giới hạn bởi các điểm: 1-2-3-...12-1, trong đó có 90m2 đất của bà Hđã cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất đƣ c giới hạn bởi các điểm A-B-C-D-A. Theo cung cấp của UBND phƣờng H thì bà H chỉ đƣ c sử dụng diện t ch 90m2, giới hạn bởi các điểm A-B-C-D-A nhƣ hiện trạng. T nh từ tim đƣờng 4,5m bắt đầu t nh diện t ch bà H đƣ c cấp (rộng 4,5m, sâu 20m). Nhƣ vậy, cấp sơ thẩm tuyên bà Dƣơng Thị H có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền cấp lại giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất đã đƣ c xác định căn c theo tọa độ sơ đồ xem xét thẩm định tại chỗ ngày 17/7/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái là không chính xác. Đối với diện t ch đất nằm ngoài giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất trên có phần nhà tạm giao cho bà H sử dụng, nếu không vi phạm quy hoạch thì bà H có thể liên hệ với cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết cấp quyền sử dụng đất theo quy định.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các l trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn c : khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự; chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái; sửa bản án dân sự sơ thẩm số 13/2018/DS-ST ngày 28/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái.
Áp dụng: Các Điều 163, Điều 164, Điều 166, Điều 236, Điều 583, Điều 688 Bộ luật Dân sự; Điều 166 Luật Đất đai; Điều 357 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn c : Điều 26 Luật Thi hành án Dân sự.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Dƣơng Thị H, về việc: "Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản là quyền sử dụng đất ".
Buộc bà Hoàng Thị B phải trả lại bà Dƣơng Thị H quyền sử dụng đất có diện t ch 90m2 đƣ c giới hạn bởi các điểm A-B-C-D-A tại khu 4, phƣờng H, thành phố M (đất đã cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số CB 813807, số vào s cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số CH 02424, do Uỷ ban nhân dân thành phố Móng Cái cấp ngày 23/10/2015 mang tên bà Dƣơng Thị H).
Đối phần diện t ch đất nằm ngoài giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất của bà Dƣơng Thị H, nếu không vi phạm quy hoạch và bà H có nhu cầu sử dụng thì liên hệ với cơ quan có thẩm quyền cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất đối với phần nằm ngoài giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất (có sơ đồ tọa độ k m theo).
Sửa chữa, b sung tên trong sơ đồ k m theo nhƣ sau:
SƠ ĐỒ HIỆN TRẠNG ĐANG SỬ DỤNG ĐẤT CỦA HỘ GIA ĐÌNH BÀ DƢƠNG THỊ H
Nay sửa chữa. b sung nhƣ sau: SƠ ĐỒ HIỆN TRẠNG ĐANG SỬ DỤNG ĐẤT CỦA HỘ GIA ĐÌNH BÀ HOÀNG THỊ B
Dƣới phần THUYẾT MINH ghi:
* Ranh giới hộ gia đình bà H đang sử dụng đất đƣ c giới hạn bởi các điểm: 1-2-3-….12-1 với diện t ch 135,5m2
Nay sửa chữa. b sung nhƣ sau: * Ranh giới hộ gia đình bà B đang sử dụng đất đƣ c giới hạn bởi các điểm: 1-2-3-….12-1 với diện t ch 135,5m2
Giao cho bà Dƣơng Thị H đƣ c quyền sở hữu, sử dụng 01 nhà ch nh có diện tích 14,5m2 (nằm trên thửa đất đã cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất); 01 nhà bếp có diện t ch 10,2m2 (một phần bếp nằm trên thửa đất đã cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất và một phần nằm ngoài phần đất đã cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất); 01 nhà tạm có diện t ch 25,1m2 (có một phần nằm trên thửa đất đã cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất và một phần nằm ngoài phần đất đã cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất) (phần diện t ch đất nhà tạm nằm trong hành lang đƣờng, bà Hcó trách nhiệm bàn giao lại cho nhà nƣớc khi có yêu cầu).
Buộc bà Hoàng Thị B có nghĩa vụ giao quyền sử dụng đất và các tài sản trên đất cho bà Dƣơng Thị H.
Bà Dƣơng Thị H có nghĩa vụ thanh toán giá trị tài sản trên đất cho bà Hoàng Thị B số tiền 42.237.756đ (bốn mƣơi hai triệu, hai trăm ba mƣơi bảy nghìn, bảy trăm năm mƣơi sáu đồng).
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và bà Hoàng Thị B có đơn yêu cầu thi hành án mà bà Dƣơng Thị H chậm trả cho bà Hoàng Thị B đối với số tiền nêu trên khi đến hạn thì bà Dƣơng Thị H phải trả lãi đối với số tiền chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền đƣ c xác định theo thỏa thuận của các bên nhƣng không đƣ c vƣ t quá m c lãi suất đƣ c quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự; nếu không thỏa thuận đƣ c thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Trƣờng h p bản án, quyết định đƣ c Thi hành theo quy định tại Điều 2 luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣ c Thi hành án dân sự, ngƣời phải Thi hành án dân sự có quyền thoả thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cƣ ng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu Thi hành án đƣ c thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Các đƣơng sự; - TAND thành phố Móng Cái; - VKSND thành phố Móng Cái; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - Chi cụcTHADS thành phố Móng Cái; - Lƣu hồ sơ vụ án; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ngô Văn Thắng |