vanban.org

Bản án 10/2018/LĐ-PT — Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 11/09/2018 Lao động Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/09/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần TG là ngƣời đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Hồ M.

Giữ nguyên Bản án lao động sơ thẩm số 14/2018/LĐ-ST ngày 28/5/2018 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng nhƣ sau: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ M về việc yêu cầu bị đơn Công ty TNHH The CS phải nhận bà Hồ M trở lại làm việc và bồi thƣờng cho nguyên đơn tổng số tiền l…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động — án lao động — "Đơn phương chấm dứt HĐLĐ giữa Hồ M - Công ty CS"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần TG là ngƣời đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Hồ M.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn th…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 10/2018/LĐ-PT
Ngày: 11/9/2018
V/v tranh chấp đơn phƣơng chấm
dứt hợp đồng lao động.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Nhàn;

Các Thẩm phán:

Bà Thái Thị Hữu Xuân;

Ông Nguyễn Đắc Cƣờng.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thùy Dƣơng – Thƣ ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Ngô Kim Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dƣơng xét xử phúc thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 12/2018/TLPT-LĐ ngày 30/7/2018 về việc “tranh chấp do bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”.

Do Bản án lao động sơ thẩm số 14/2018/LĐ-ST ngày 28/5/2018 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 11/2018/QĐ-PT ngày 15/8/2018, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Bà Hồ M, sinh năm 1989; nơi thƣờng trú: Xã BX, huyện TX, tỉnh Bến Tre; tạm trú: Khu phố B1, phƣờng B2, thị xã TH, tỉnh Bình Dƣơng.

Ngƣời đại diện hợp pháp: Ông Trần TG, sinh năm 1979; địa chỉ: Xã TB, huyện H, tỉnh Bình Phƣớc, là ngƣời đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 19/10/2017).

- Bị đơn: Công ty TNHH The CS; địa chỉ: Số XY, khu phố B, phƣờng TP, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng.

Ngƣời đại diện hợp pháp: Bà Trƣơng Thị H, sinh năm 1974; địa chỉ: Lầu 1, số AB, đƣờng NY1, Phƣờng X, Quận XA, Thành phố Hồ Chí Minh, là ngƣời đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 05/2018/UQ ngày 15/3/2018).

- Người kháng cáo: Ông Trần TG là ngƣời đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Hồ M.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung của bản án sơ thẩm:

Bà Hồ M đã có thời gian làm việc tại Công ty TNHH Nhà máy CT (sau đây viết tắt là Công ty Nhà máy CT); địa chỉ: Khu phố BA, phƣờng P2, thị xã TH, tỉnh Bình Dƣơng. Vào năm 2011, bà Hồ M và Công ty Nhà máy CT ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn với mức lƣơng và phụ cấp là 6.825.000 đồng/tháng. Vào khoảng đầu tháng 10/2016, phía Công ty Nhà máy CT đã cho chuyển toàn bộ máy móc và trang thiết bị ngành may cùng một số lao động sang Công ty TNHH The CS (sau đây viết tắt là Công ty CS); địa chỉ: Số XY, khu phố B, phƣờng TP, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng để lắp ráp thiết bị, máy móc. Ngày 25/10/2016, toàn bộ lao động của Công ty Nhà máy CT trong đó có bà M đã chuyển qua làm việc tại Công ty CS.

Sau đó bà M đã làm việc tại Công ty CS đƣợc 06 ngày, đến ngày 31/10/2016 phía Công ty CS cho dán 02 danh sách “Công nhân đƣợc làm việc và không đƣợc làm việc tại Công ty TNHH The CS” trƣớc cổng Công ty CS. Ban chấp hành Công đoàn cơ sở của Công ty Nhà máy CT đã mời Công đoàn ngành Dệt - May tỉnh Bình Dƣơng đến làm việc, giải quyết tranh chấp giữa ngƣời lao động với Công ty CS. Tuy nhiên bà M vẫn không đƣợc nhận trở lại Công ty CS làm việc.

Nhận thấy việc làm của Công ty là trái quy định của pháp luật, vì vậy bà M đã khởi kiện Công ty Nhà máy CT ra Tòa án nhân dân thị xã TH, tỉnh Bình Dƣơng để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp. TAND thị xã TH đã đƣa vụ án ra xét xử và giải quyết bằng Bản án lao động sơ thẩm số 27/2017/LĐ-ST ngày 12/12/2017.

Tuy nhiên, Bản án sơ thẩm số 27/2017/LĐ-ST ngày 12/12/2017 của TAND thị xã TH không chấp nhận yêu cầu của bà M về việc yêu cầu Công ty Nhà máy CT nhận bà M trở lại làm việc vì Công ty Nhà máy CT đã giải thể. Mặt khác, theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật Lao động và Điều 15 Nghị định 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định khi Công ty Nhà máy CT bán máy móc cho Công ty CS thì cả hai công ty đều phải có phƣơng án sử dụng lao động. Mặc dù giữa bà M với Công ty CS không ký hợp đồng lao động nhƣng bà M đã làm việc ở Công ty CS 06 ngày nên buộc Công ty CS phải có trách nhiệm với ngƣời lao động. Nếu có cho bà M nghỉ việc thì cũng phải thực hiện đúng trình tự theo quy định của Bộ luật Lao động. Vì vậy, bà M tiếp tục khởi kiện Công ty TNHH The CS, yêu cầu Công ty TNHH The CS phải nhận bà Hồ M trở lại làm việc theo vị trí, mức lƣơng và phụ cấp trƣớc đây và bồi thƣờng các khoản sau:

1. Buộc Công ty TNHH The CS thanh toán tiền những ngày bà Hồ M không đƣợc làm việc từ ngày 12/12/2017 cho đến ngày xét xử sơ thẩm 24/5/2018 tính tròn 05 tháng với số tiền là tháng lƣơng cơ bản: 6.825.000 đồng/tháng x 05 tháng = 34.125.000 đồng;

2. Buộc Công ty TNHH The CS bồi thƣờng hai tháng tiền lƣơng do đơn phƣơng chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật cho bà Hồ M là: 6.825.000 đồng/tháng x 02 tháng = 13.650.000 đồng;

3. Buộc Công ty TNHH The CS bồi thƣờng về việc đơn phƣơng chấm dứt hợp đồng lao động mà không báo trƣớc 45 ngày theo quy định của pháp luật cho bà Hồ M là: (6.825.000 đồng : 26 ngày) x 45 ngày = 11.812.000 đồng;

4. Buộc Công ty TNHH The CS phải trả số tiền Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian bà M không làm việc tại Công ty TNHH The CS theo quy định của pháp luật Bảo hiểm xã hội với số tiền 7.507.000 đồng.

Tổng cộng số tiền bà Hồ M yêu cầu Công ty TNHH The CS phải bồi thƣờng cho bà M là 67.094.000 (Sáu mƣơi bảy triệu không trăm chín mƣơi bốn nghìn) đồng.

Chứng cứ do nguyên đơn xuất trình là Hợp đồng lao động số 090517/4/HĐ ngày 02/5/2011; Phụ lục hợp đồng lao động 090517/PLHĐ ngày 01/01/2016; Hợp đồng bán máy số 02TL-TCF/TCS ngày 29/9/2016; Hoá đơn giá trị gia tăng ngày 01/10/2016; Văn bản về việc xác nhận đã có làm việc tại Công ty TNHH The CS; Văn bản về việc xin xác nhận có đến trụ sở Công ty TNHH The CS vào cuối tháng 12/2016 gửi Công đoàn Dệt - May tỉnh Bình Dƣơng; Danh sách công nhân viên không làm việc tại Công ty CS ngày 01/11/2016; Danh sách công nhân viên làm viêc tại Công ty CS.

Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn bà Trương Thị H trình bày: Giữa Công ty TNHH The CS với bà Hồ M không có bất kỳ quan hệ lao động nào. Bà Hồ M và Công ty CS không ký hợp đồng lao động. Việc bà M có làm việc ở Công ty CS 06 ngày hay không thì cũng không chứng minh đƣợc bà M là ngƣời lao động của Công ty CS. Về việc dán thông báo giải thể Công ty Nhà máy CT, danh sách công nhân viên làm việc và không làm việc tại Công ty CS tại trụ sở Công ty CS thì Công ty CS khẳng định không hề cho dán bất kỳ loa ̣i văn bản nào nhƣ trên tại trụ sở của Công ty . Tuy nhiên, liên quan đến các bản danh sách công nhân viên làm việc và không làm việc tại Công ty The CS thì tại thời điểm đó, ông Huh Sung M1 đang giữ chức vụ Tổng Giá m đốc kiêm ngƣời đại diện theo pháp luật của Công ty CS, đồng thời ông Huh Sung M1 cũng đang là ngƣời phụ trách các công việc liên quan đến việc giải thể của Công ty Nhà máy CT. Cùng lúc đó, bộ phận sản xuất của Công ty CS đang cần tuyển dụng thêm một số lao động để phục vụ nhu cầu hoạt động, sản xuất của Công ty. Có lẽ vì biết đƣợc tình hình đó nên ông Huh Sung M1 đã đề xuất với Ban Lãnh đạo Công ty CS tiến hành tuyển dụng mới một số lao động đã nghỉ việc từ Công ty Nhà máy CT và đang có nhu cầu tìm việc làm mới nhằm tạo công ăn việc làm cho các lao động này. Tuy nhiên, nhu cầu tuyển dụng của Công ty CS và số lao động phù hợp là có giới hạn nên công ty chỉ tuyển dụng những lao động phù hợp, do đó ông Huh Sung M1 đã lập các bản danh sách này để thông báo cho ngƣời lao động biết những ngƣời đƣợc công ty tuyển dụng và những ngƣời không đƣợc hỗ trợ tuyển dụng tại thời điểm đó để họ chủ động tìm kiếm các công việc mới. Nhƣ vậy, Công ty Nhà máy CT và Công ty CS là 02 doanh nghiệp hoàn toàn độc lập, không có mối liên hệ gì với nhau. Công ty CS đã đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và hoạt động một cách độc lập. Ngoài ra, theo quy định tại Khoản 1 Điều 45, Điều 46 của Bộ luật Lao động và Khoản 1 Điều 15 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ thì đều quy định: “Trƣờng hợp chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, thì ngƣời sử dụng lao động trƣớc đó phải lập phƣơng án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 Bộ luật Lao động”. Do đó, khi Công ty Nhà máy CT chuyển quyền sử dụng tài sản cho Công ty CS thì theo quy định của pháp luật Công ty Nhà máy CT phải có kế hoạch, phƣơng án sử dụng lao động, Công ty CS không có nghĩa vụ lập phƣơng án sử dụng lao động. Công ty CS không có nghĩa vụ phải nhận ngƣời lao động của Công ty Nhà máy CT theo bất kỳ quy định nào của pháp luật lao động. Bên cạnh đó, vụ án tranh chấp về việc đơn phƣơng chấm dứt hợp đồng lao động giữa bà M với Công ty Nhà máy CT đã đƣợc Tòa án nhân dân thị xã TH, tỉnh Bình Dƣơng thụ lý, giải quyết bằng Bản án lao động sơ thẩm số 27/2017/LĐ-ST ngày 12/12/2017. Do đó, cùng một vụ tranh chấp lao động mà ngƣời lao động khởi kiện 02 doanh nghiệp độc lập là không hợp lý và không có cơ sở pháp lý . Vì vâ ̣y, phía bị đơn Công ty TNHH The CS đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên căn cƣ́ vào các quy định của pháp luật không chấp nhận yêu cầu khở i kiê ̣n của bà M.

Tại Bản án lao động sơ thẩm số 14/2018/LĐ-ST ngày 28/5/2018 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng đã tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ M về việc yêu cầu bị đơn Công ty TNHH The CS phải nhận bà Hồ M trở lại làm việc và bồi thƣờng cho nguyên đơn tổng số tiền là 67.094.000 (Sáu mƣơi bảy triệu không trăm chín mƣơi bốn nghìn) đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về phần án phí và quyền kháng cáo cho các đƣơng sự.

Ngày 11/6/2018, ông Trần TG là ngƣời đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Hồ M có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm với lý do: Không chấp nhận toàn bộ phán quyết, quyết định của bản án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ngƣời đại diện hợp pháp của bà Hồ M có đơn xin xét xử vắng mặt. Ngƣời đại diện hợp pháp của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án lao động sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dƣơng phát biểu ý kiến:

Về tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử , nhƣ̃ng ngƣờ i tiến hành tố tụng và những ngƣời tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tu ̣ng dân sự. Về nội dung, bà Hồ M ký hợp đồng lao động với Công ty CT, không ký hợp đồng lao động với Công ty CS, nên giữa hai bên không phát sinh quan hệ lao động. Phía nguyên đơn cho rằng: Công ty CT bán máy móc, trang thiết bị cho Công ty CS và chuyển bà M sang làm việc tại Công ty CS từ ngày 25/10/2016 đến ngày 30/10/2016 nên đã phát sinh quan hệ lao động để khởi kiện yêu cầu Công ty CS phải bồi thƣờng là không có cơ sở. Tòa án cấp sơ thẩm xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Ngƣời đại diện hợp pháp của nguyên đơn kháng cáo, nhƣng không cung cấp đƣợc tài liệu, chứng cứ mới để chứng minh. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của phía nguyên đơn, giữ nguyên Bản án lao động sơ thẩm số 14/2018/LĐ-ST ngày 28/5/2018 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng. Những kiến nghị về khắc phục vi phạm thủ tục tố tụng không có.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa; ý kiến trình bày của các bên đƣơng sự và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dƣơng; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục: Sau khi nhận đƣợc Bản án lao động sơ thẩm số 14/2018/LĐ-ST ngày 28/5/2018 của Tòa án nhân dân thị xã T, ngày 11/6/2018 ngƣời đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Trần TG có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm là còn trong thời hạn theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo kết quả xác minh của Tòa án nhân dân thị xã T thì Công ty TNHH Nhà máy CT (sau đây gọi tắt là Công ty CT) đã ngƣng hoạt động và ngƣời đại diện theo pháp luật của Công ty là ông Kim Chul S đã xuất cảnh lần gần nhất là ngày 20/7/2015 (bút lục 201). Do đó, Tòa án nhân dân thị xã T không đƣa Công ty CT vào tham gia tố tụng với tƣ cách ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là phù hợp. Mặt khác, quan hệ lao động giữa bà Hồ M với Công ty CT đã đƣợc giải quyết bằng Bản án lao động sơ thẩm số 27/2017/LĐ-ST ngày 12/12/2017 của TAND thị xã TH đã có hiệu lực pháp luật (bút lục 141-145).

Ngày 31/8/2018, ngƣời đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử phúc thẩm vắng mặt đại diện nguyên đơn.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Trần TG là ngƣời đại diện hợp pháp của nguyên đơn với nội dung kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm; do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét lại việc giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Theo nội dung khởi kiện nguyên đơn cho rằng, có sự chuyển nhƣợng máy móc giữa Công ty CS với Công ty CT, và nguyên đơn đã đƣợc chuyển sang làm việc tại Công ty CS trong 06 ngày nhƣng sau đó bị nghỉ việc theo danh sách niêm yết tại Công ty CS là không đúng qui định của pháp luật nên phát sinh tranh chấp, nhận thấy: Theo hợp đồng lao động đã ký vào năm 2011 giữa bà Hồ M và Công ty CT thì bà M là ngƣời lao động làm việc cho Công ty CT, Công ty CT là Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, đƣợc thành lập theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mã số 3701307394 đăng ký lần đầu ngày 16/12/2008, đăng ký thay đổi lần thứ 5 ngày 16/10/2015; trụ sở: Khu phố B, phƣờng BC, thị xã TH, tỉnh Bình Dƣơng. Còn Công ty TNHH The CS là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, chủ sở hữu là Ludi 21, LLC; đƣợc thành lập theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mã số 3702498487 đăng ký lần đầu ngày 15/9/2016, đăng ký thay đổi lần thứ 1 ngày 25/8/2017; trụ sở: Số XY, khu phố B, phƣờng TP, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng. Ngoài ra, theo biên bản xác minh ngày 20/12/2017 của Tòa án nhân dân thị xã T tại Sở Kế hoạch và đầu tƣ tỉnh Bình Dƣơng, xác định:“Theo hồ sơ đăng ký thành lập Công ty TNHH The CS và Công ty TNHH Nhà máy CT thể hiện không có mối quan hệ gì với nhau. Giữa hai Công ty không có sự chia tách, sáp nhập hoặc đổi tên từ Công ty TNHH Nhà máy CT thành Công ty TNHH The CS” (bút lục 107, 108). Nhƣ vậy, Công ty CS và Công ty CT là hai doanh nghiệp khác nhau; do đó, Công ty CS không có trách nhiệm đối với ngƣời lao động của Công ty CT. Bà Hồ M ký hợp đồng lao động với Công ty CT và đƣợc Công ty CT trả lƣơng cho đến thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động (ngày 01/11/2016). Vì vậy, việc bà M căn cứ vào 06 ngày làm việc tại Công ty CS (từ ngày 25/10/2016 đến ngày 30/10/2016) để xác định giữa bà và Công ty CS có quan hệ lao động để yêu cầu Công ty CS nhận bà trở lại làm việc và giải quyết các quyền lợi cho bà theo quy định của pháp luật là không có căn cứ chấp nhận.

[3] Xét chứng cứ nguyên đơn cung cấp là hợp đồng chuyển nhƣợng máy móc giữa Công ty CS và Công ty CT thì đây là sự chuyển nhƣợng tài sản giữa 02 doanh nghiệp khác nhau, không thuộc trƣờng “sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, hợp tác xã” nên Công ty CS không có nghĩa vụ theo quy định tại Điều 45 của Bộ luật Lao động. Vì vậy, việc ngƣời đại diện hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu áp dụng Điều 15 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ để buộc Công ty CS phải có trách nhiệm xây dựng phƣơng án sử dụng lao động và bồi thƣờng cho ngƣời lao động là không phù hợp. Mặt khác, thời gian bà M làm việc tại Công ty CS (từ ngày 25/10/2016 đến ngày 30/10/2016) là làm việc theo sự điều động của Công ty CT và đã đƣợc Công ty CT trả lƣơng theo quy định.

[4] Xét chứng cứ nguyên đơn cung cấp là danh sách “Danh sách công nhân viên không làm việc tại Công ty CS ngày 01/11/2016” thì danh sách này do Công ty CT ban hành, đƣợc đóng dấu mộc của Công ty CT (bút lục 10,11), không phải của Công ty CS. Việc Công ty CS lập “danh sách công nhân viên làm việc tại Công ty CS ngày 01/11/2016” (bút lục 07-09) là thiện chí của Công ty CS giúp giải quyết việc làm cho một số ngƣời lao động rơi vào tình trạng mất việc làm tại Công ty CT, sự việc này không đồng nghĩa với việc giữa Công ty CS với bà Hồ M đã giao kết hợp đồng lao động.

[5] Từ những phân tích tại mục [2], [3] và [4] nêu trên, nhận thấy: Bản án lao động sơ thẩm số 14/2018/LĐ-ST ngày 28/5/2018 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng xử: “Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ M đối với Công ty TNHH The CS” là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Ông Trần TG là ngƣời đại diện hợp pháp của nguyên đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhƣng không cung cấp đƣợc tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của đại diện nguyên đơn. Ý kiến trình bày của ngƣời đại diện hợp pháp cho bị đơn và đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dƣơng về việc giữ nguyên bản án lao động sơ thẩm là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về án phí lao động sơ thẩm và án phí lao động phúc thẩm: Nguyên đơn bà Hồ M đƣợc miễn nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần TG là ngƣời đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Hồ M.

- Giữ nguyên Bản án lao động sơ thẩm số 14/2018/LĐ-ST ngày 28/5/2018 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng nhƣ sau:

Áp dụng các Điều 32, 35, 147, 266, 269, 271, 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 22, 45, 46 và 201 của Bộ luật Lao động; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mƣ́ c thu , miễn, giảm, thu, nô ̣p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án;

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ M về việc yêu cầu bị đơn Công ty TNHH The CS phải nhận bà Hồ M trở lại làm việc và bồi thƣờng cho nguyên đơn tổng số tiền là 67.094.000 (Sáu mƣơi bảy triệu không trăm chín mƣơi bốn nghìn) đồng.

2. Về án phí lao động sơ thẩm: Các đƣơng sự không phải chịu án phí.

- Về án phí lao động phúc thẩm: Bà Hồ M đƣợc miễn án phí.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 11/9/2018./.

Cỡ chữ