- Tranh chấp gì? án hình sự — "trần đức T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Đức TU
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LINH TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:14/2018/HSST Ngày: 26 /10/ 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Chung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thiều Quang An
Ông Võ Văn Long
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Vĩnh – Thư ký Toà án nhân dân huyện
Vĩnh Linh
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh tham gia phiên toà: Ông Phạm Hồng Ánh - Kiểm sát viên.
Ngày 26/10/2018 tại trung tâm văn hóa học tập cộng đồng thị trấn Cửa Tùng, Vĩnh Linh, Quảng Trị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 13/2018/HSST ngày 14/9/2018 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2018/ QĐXXST-HS ngày 12/10/2018 đối với bị cáo: Trần Đức T( Chuột) sinh năm: 1998; HKTT và chỗ ở: Thôn ThB, Tr Gi, GiL, Quảng Trị; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không: Trình độ học vấn: 9/12;Nghề nghiệp: Lao động tự do ;Con ông: Trần Văn Ch và con bà: Nguyễn Thị H;Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ 3;Vợ,con: Chưa;Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/6/2018 đến nay (Có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1.Anh Trần Đức D, sinh năm 1995.
Trú tại: Th B, TGi, GiL, Quảng Trị
2. Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1972.
Trú tại; Th B, TG, GiL, Quảng Trị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 09/6/2018 Trần Đức T đi nhờ xe của một người không quên biết đến khu vực chợ Cầu, thị trấn Gio Linh gặp một người tên Vầm ( Không quen biết và không có biết địa chỉ) mua 30 viên ma túy tổng hợp với số tiền 2.000.000đ để sử dụng. Sau khi mua xong T đi xin nhờ xe về lại nhà mình ở thôn Thủy Bạn, Trung Giang, Tâm đem 20 viên ma túy tổng hợp để trong hai ống màu trắng giấu vào sau tấm gương trong phòng tắm của gia đình mình, còn 10 viên ma túy tổng hợp T để trong 01 đoạn ống nhựa màu trắng cất trong túi quần phải của mình. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày Tâm mượn xe mô tô biển kiểm soát 74F2-6145 của Trần Đức D cùng thôn đến nhà chơi đêìu khiển đên khu vực Cảng cá thuộc khu phố AĐ2, thị trấn CT, Vĩnh Linh để sử dụng thì Công an huyện Vĩnh Linh tuần tra phát hiện và thu giữ trong túi quần của T 10 viên ma túy dựng trong ống nhựa màu trắng. Tiến hành khám xét khẩn cấp tại nhà của Tâm ở thôn Th B, Tr Gi, Gio L thu giữ thêm 20 viên ma túy dạng màu hồng đựng trong 02 ống nhựa được cất dấu sau tấm gương trong nhà tắm.
Tại bản kết luận giám định số 370/KLGĐ ngày 14/6/2018 của phòng kỷ thuật hình sự- Công an tỉnh Quảng Trị kết luận 30 viên ma túy dạng viên nén, màu hồng thu giữ là chất Methamphetamine, có khối lượng 3,0223gam. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II,STT:323 Nghị định 73/2018/NĐ/Cp ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình theo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Tại bản cáo trạng số 14/KSĐT ngày 12/9/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh đã truy tố bị cáo Trần Đức T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Hành vi của bị cáo Trần Đức T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015.
Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo T mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.
- Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 1,8710 gam Methamphetamine còn lại. -
Đề nghị trã lại 01 xe mô tô hiệu Drun biển kiểm soát 74F2-6145 cho gia đình chị Nguyễn Thị D hiện tạm giữ tại kho vật chứng.
Nói lời sau cùng bị cáo nhận thấy việc làm của bản thân là sai, vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét mở lượng khoan hồng cho bị cáo mức án nhẹ nhất
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Vĩnh Linh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản tạm giữ đồ vật, bản kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dụng bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút 09/6/2018 Tâm mượn xe mô tô biển kiểm soát 74F2-6145 của Trần Đức D ở cùng thôn Thủy Bạn, Trung Giang, Gio Linh đến nhà chơi rồi điều khiển xe mô tô nói trên đến khu vực Cảng cá thuộc khu phố AĐ2, thị trấn C T, Vĩnh Linh để sử dụng ma túy, chưa sử dụng thì bị Công an huyện Vĩnh Linh tuần tra phát hiện và thu giữ trong túi quần của T 10 viên ma túy đựng trong ống nhựa màu trắng. Tiến hành khám xét khẩn cấp tại nhà của T ở thôn Thủy Bạn, Trung Giang, Gio Linh thu giữ thêm 20 viên ma túy dạng màu hồng đựng trong 02 ống nhựa được cất dấu sau tấm gương trong nhà tắm.
Hành vi của bị cáo Trần Đức T đã cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Linh đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo về tội danh nêu trên là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã cố ý xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy và xâm phạm trật tự an toàn xã hội được Bộ luật Hình sự bảo vệ. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo.
Xét nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự song xét về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết giảm nhẹ TNHS của bị cáo: Khi lượng hình cũng xem xét, tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn nhận tội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015.
Đại diện VKS đề nghị mức hình phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của HĐXX.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy 1,8710 gam Methamphetamine còn lại thu của bị cáo sử dụng vào việc thực hiện tội phạm.
- Theo như anh Trần Đức D và chị Nguyễn Thị D khai chiếc xe mô tô hiệu Drun biển kiểm soát 74F2-6145 là xe của gia đình, việc D sử dụng tới nhà T chơi và cho T mượn đi, cả D và chị D không biết T dùng vào việc phạm tội nên trã lại cho gia đình chị D.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử lý vật chứng phù hợp với nhận định của HĐXX.
Đối với người tên Vầm bán ma túy cho T ngày 09/6/2018, do T khai không biết gì về nhân thân lai lịch của người này nên Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện Vĩnh Linh chưa đủ điều kiện xác minh làm rõ xử lý, khi nào làm rõ sẽ sử lý sau là phù hợp có căn cứ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
Q
T ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Trần Đức TU
(Chuột) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 củaY
Ế Bộ luật Hình sự 2015.
- Xử phạt Trần Đức T (Chuột) 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (09/6/2018).
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 và Điều 106 Bộ
luật Tố tụng Hình sự 2015.
- Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có hình dấu “Phòng kỷ thuật hình
sự Công an tỉnh Quảng Trị” có ký hiệu MT 59/PC54 bên trong phong bì có chứa
1,8710gam chất Methamphetamine.
- Trả lại cho gia đình chị Nguyễn Thị D 01 xe mô tô hiệu Drun biển kiểm soát 74F2-6145 màu nâu.
Tất cả vật chứng trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18/9/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Linh.
3.Về án phí : Áp dụng Điều 136 bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Toà án buộc: Bị cáo Trần Đức T(Chuột) phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4 . Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 bộ luật Tố tụng Hình sự 2015. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Trần Đức Dũng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
| Nơi nhận - TAND Tỉnh Quảng Trị; - VKSND huyện Vĩnh Linh - Công an Vĩnh Linh; - Chi cục THA DS huyện Vĩnh Linh; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ - Lưu VP/TA | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hoàng Văn Chung |