vanban.org

Bản án 10/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 20/04/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh S phạm tội “Giao cấu với trẻ em”.

Áp dụng khỏan 1 Điều 115; ñieåm b, p khoaûn 1 Điều 46, Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh S 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm tính từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giao cấu với trẻ em - phạm tội giao cấu với trẻ em (điều 115 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh S phạm tội “Giao cấu với trẻ em”.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 332 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2018/HS-ST
Ngày: 20/4/2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Hùng Cường.

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Trần Văn Tám

2. Ông Nguyễn Văn Dũng

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhàn, Thư ký Tòa án nhân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy tham gia phiên tòa có: Ông Nguyễn Trân Quốc Vương, Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 4 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 08/2018/HSST ngày 06 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2018/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh S, sinh năm 1995 tại Tiền Giang.

Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp A, xã B, huyện N, tỉnh Tiền Giang; số chứng minh nhân dân: 312250876; Nghề nghiệp: Sửa xe; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; Con ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thị Kim L; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại. (Có mặt).

- Người bị hại:

Nguyễn Thị Thùy D, sinh ngày 28/7/2002. (Vắng mặt)

Trú quán: ấp F, xã G, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang

- Người đại diện hợp pháp của người bị hại.

1/ Đăng Thị Bích H, sinh năm 1981. (Vắng mặt)

Trú quán: ấp F, xã G, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

2/ Nguyễn Văn H , sinh năm 1977. (Vắng mặt)

Trú quán: ấp F, xã G, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Nguyễn Văn B, sinh năm 1969. (Vắng mặt)

Trú quán: : ấp A, xã B, huyện N, tỉnh Tiền Giang.

- Người làm chứng:

Đoàn Minh T, sinh năm 2001. (Vắng mặt)

Trú quán: Trú quán: Số L, đường Q, phường K, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

- Người đại diện hợp pháp của người làm chứng:

Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm 1969. (Vắng mặt)

Trú quán: : Số L, đường Q, phường K, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hò sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 8/2017, Nguyễn Thanh S và Nguyễn Thị Thùy D, sinh ngày 28/7/2002, đăng ký thường trú ấp F, xã G, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang quen biết nhau và phát sinh tình cảm nam nữ. Tối ngày 07/10/2017, S nhắn tin thông qua mạng xã hội Facebook hẹn trưa ngày 08/10/2017 sẽ đến chở D đi chơi thì D đồng ý. Khoảng 13 giờ ngày 08/10/2017, S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 63K9-4190 đến chở D đi vòng quanh khu vực chợ Cai Lậy. Sau đó, S chở D đến nhà trọ H tọa lạc khu phố 1, phường 5, thị xã Cai Lậy thuê phòng số 11 để nghỉ. Tại đây, được sự đồng ý của D nên S và D đã giao cấu với nhau 01 lần. Sau khi giao cấu xong, S điều khiển xe đưa D về nhà. Sau đó, sự việc trên bị gia đình D phát hiện nên đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra tố giác hành vi của Nguyễn Thanh S.

Bản kết luận giám định pháp y về tình dục số 42/17/TD ngày 14/10/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Tiền Giang kết luận Nguyễn Thị Thùy D:

- Màng trinh: dãn rộng, rách cũ vị trí 5 giờ và 8 giờ.

- Soi tươi tìm xác tinh trùng: Không tìm thấy xác tinh trùng.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại ông Nguyễn Văn H yêu cầu S bồi thường số tiền 35.000.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường xong.

Cáo trạng số 11/CT-VKSTXCL ngày 05 tháng 3 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy truy tố Nguyễn Thanh S tội “ Giao cấu với trẻ em” theo quy định tại khoản 1 Điều 115 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang giữ quyền công tố luận tội va tranh luận, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh S phạm tội “ Giao cấu với trẻ em”, áp dụng khoản 1 Điều 115, điểm b, p khoản 1 Điều 46, Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 xử phạt bị cáo từ 01-1,5 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02-03 năm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Tại phiên Tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Thanh S đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố cụ thể: Vào ngày 08/10/2017 Nguyễn Thanh S đã giao cấu 01 lần với Nguyễn Thị Thùy D, sinh ngày 28/7/2002 tại nhà trọ H tọa lạc khu phố 1, phường 5, thị xã Cai Lậy. Xét lời khai nhận của bị cáo đã phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, tại thời điểm này Thùy D dưới 16 tuổi. Do đó bị cáo đã phạm vào tội “ Giao cấu với trẻ em” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 115 Bộ luật hình sự.

Haønh vi phaïm toäi cuûa bò caùo là nghiêm trọng. Bởi lẽ, vieäc giao caáu tuy coù söï ñoàng ý cuûa ngöôøi bò haïi, nhöng tại thôøi ñieåm bò caùo giao caáu thì bò haïi chöa ñuû 16 tuoåi nên khả năng nhaän thöùc coøn non nớt haïn cheá veà nhieàu maët, bị cáo đã lợi dụng sự thiếu hiểu biết của bị hại nhaát laø vieäc quyeát ñònh veà maët tình duïc, hành vi này không những tröïc tieáp xaâm phaïm ñeán söï phaùt trieån bình thöôøng veà theå chaát vaø taâm sinh lyù cuûa Thùy D mà còn gây aûnh höôûng xaáu ñeán ñaïo ñöùc, danh döï nhaân phaåm vaø tinh thaàn cuûa bò haïi, do đó cần phải được xử lý nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện.

Tuy nhieân Hội đồng xét xử coù xem xeùt giaûm nheï, Bởi vì bị cáo có nhân thân tốt, mới phạm tội lần đầu chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra cũng như tại Tòa biết thaät thaø khai baùo, toû thaùi ñoä aên naên hoái caûi và đã tự nguyện khắc phục xong hậu quả, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự ñöôïc qui ñinh taïi ñieåm b, p khoaûn 1 Điều 46 BLHS. Từ đó nghĩ cần không phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao về cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục là đủ.

Do hành vi phạm tội của bị cáo xảy ra trước ngày 01/01/2018, căn cứ vào Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật hình sự năm 1999 để xét xử bị cáo là phù hợp.

Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh S phạm tội “Giao cấu với trẻ em”.

1. Áp dụng khỏan 1 Điều 115; ñieåm b, p khoaûn 1 Điều 46, Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh S 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã Long Tiên, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

2. Về án phí: Á p du ̣ng Điều 136 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự; Nghị quyết

̀ 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy đình về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng về án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thanh S phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo, áp dụng Điều 331, 332, 333, 334 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án. Riêng những người vắng mặt thời gian được tính kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ