- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số : 10/2018/HS-ST Ngày 18-01-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚ C CỘ NG HÒ A XÃ HỘ I CHỦ NGHĨ A VIỆ T NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩ m phá n – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễ n Thị Xuân Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Đức Toàn
2. Ông Vũ Tiến Thịnh
- Thư ký phiên tò a : Bà Phạm Khánh Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành
phố Thái Bình.
- Đạ i diệ n Việ n kiể m sá t nhân dân thà nh phố Thá i Bì nh tham gia phiên
tòa: Bà Trương Thị Huyền - Kiể m sá t viên.
Trong ngày 18 tháng 01 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố
Thái Bình, tỉnh Thái Bình, Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 218/2018/TLST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2017 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2018/QĐXXST-HS ngày 04/01/2018 đố i vớ i bị cáo:
NGUYỄN THANH T - Sinh ngày 04/5/1982.
Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số nhà 21, đường P, tổ 35, phường K, thành phố T, tỉnh T; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Việt T (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị B, sinh năm 1959; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ 3; Vợ: Phạm Thị T, sinh năm 1989; Có 01 con, sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Chưa; Nhân thân: Được gia đình nuôi ăn học hết lớp 10/12, sau đó nghỉ học ở nhà lao động tự do; Ngày 09/7/2009 bị áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội thời hạn 12 tháng theo quyết định số 1385 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh T. Chấp hành xong ngày 13/7/2010; Ngày 13/3/2008 bị Tòa án nhân dân thành phố T xử 03 tháng tù giam tính từ ngày 17/12/2007 về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 29/2008/HSST. Ra trại ngày 17/3/2008. Chấp hành xong án phí ngày 26/8/2008; Ngày 20/6/2013 bị áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội thời hạn 12 tháng theo Quyết định số 1942 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T. Chấp hành xong ngày 21/6/2014; Bị tạm giữ từ ngày 12/11/2017 đến ngày 15/11/2017 chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
(Bị cáo trích xuất có mặt tại phiên tòa)
* Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1974; Trú tại: Thôn T, xã T, thành phố T, tỉnh T. (Vắng mặt)
- Anh Phạm Văn T, sinh năm 1985; Trú tại: Thôn T2 , xã V, thành phố T, tỉnh T. (Vắng mặt)
NỘ I DUNG VỤ Á N:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 12/11/2017 T điều khiển xe máy điện biển số 17MD9 - 073.96 (là xe mượn của anh Nguyễn Trần T, sinh năm 1977, trú tại: Tổ 06, phường Đ, thành phố T) từ nhà đến tổ 37a, đường P, phường K, thành phố T gặp và mua của một người nam giới tên H (khoảng 45 tuổi, không quen biết) 100.000 đồng được 01 gói heroine rồi cất giấu vào túi quần phải để đi tìm chỗ để sử dụng. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đi đến khu vực đường P, thuộc tổ 38, phường K, thành phố T thì bị tổ công tác của phòng PK20 Công an tỉnh T yêu cầu kiểm tra hành chính. Trước sự chứng kiến của những người làm chứng là anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1974; trú tại thôn T, xã T, thành phố T và anh Phạm Văn T, sinh năm 1985; trú tại thôn T2, xã V, thành phố T, T tự giác lấy từ túi quần bên phải đang mặc 01 gói bên ngoài gói bằng giấy bạc màu vàng, tổ công tác mở ra kiểm tra bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục là ma túy, T khai là heroine vừa mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã mời người làm chứng và yêu cầu T về trụ sở Công an tỉnh T, kiểm tra xe máy điện 17MD9-073.96 của T không phát hiện thu giữ gì, kiểm tra người T thu giữ tại túi quần bên trái 01 điện thoại Samsung màu trắng và 540.000 đồng. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng. Ngoài ra còn thu giữ của Tùng 01 xe máy điện nhãn hiệu Surika Primavera, màu đỏ xám 17MD9-073.96.
Bản kết luận giám định số 431/KLGĐ-PC54 ngày 12/11/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu gửi giám định thu của Nguyễn Thanh T là ma túy, loại Heroine, có trọng lượng 0,1712 gam.
Trong quá trì nh đ iề u tra, truy tố và tạ i phiên tò a hôm nay , Nguyễn Thanh T đã khai nhậ n toà n bộ hà nh vi phạ m tộ i củ a mì nh.
Bản cáo trạng số 08/KSĐT ngà y 29 tháng 12 năm 2017 của Viện kiểm sát
nhân dân thà nh phố Thá i Bì nh truy tố bị cá o Nguyễn Thanh T về tộ i “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điề u 194 Bộ luậ t hì nh sự năm 1999.
Tại phiên tòa, đạ i diệ n Việ n kiể m sá t nhân dân thà nh phố Thá i Bì nh vẫ n giữ
nguyên quan điể m truy tố Nguyễn Thanh T về tộ i “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đạ i diệ n Việ n kiể m sá t nhân dân thà nh phố Thá i Bì nh đề nghị Hộ i đồ ng xé t
xử á p dụ ng : điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 7; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo mứ c á n từ 18 tháng đến 24 tháng tù, thờ i hạ n tù tí nh từ ngà y bị cá o bị bắ t tạ m giữ 12/11/2017.
Và những vấn đề cần giải quyết trong vụ án.
Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬ N ĐỊ NH CỦ A HỘ I ĐỒ NG XÉ T XƢ̉ :
Trên cơ sở nộ i dung vụ á n , căn cứ và o cá c tà i liệ u trong hồ sơ vụ á n đã đượ c
thẩ m tra, xét hỏi, tranh luậ n tại phiên tòa, Hộ i đồ ng xé t xử nhậ n thấ y như sau:
Về hà nh vi, quyế t đị nh tố tụ ng củ a Cơ quan điề u tra Công an thà nh phố Thá i
Bình, Điề u tra viên , Việ n kiể m sá t nhân dân thà nh phố Thá i Bì nh , Kiể m sá t viên trong quá trì nh điề u tra, truy tố đã thự c hiệ n đú ng về thẩ m quyề n , trình tự, thủ tục quy đị nh củ a Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sự . Quá trình điều tra và tại phiên tòa , bị cáo không có ý kiế n hoặ c khiế u nạ i về hà nh vi , quyế t đị nh củ a Cơ quan tiế n hà nh tố tụng, ngườ i tiế n hà nh tố tụ ng . Do đó , các hành vi, quyế t đị nh tố tụ ng củ a Cơ quan tiế n hà nh tố tụ ng, ngườ i tiế n hà nh tố tụ ng đã thự c hiệ n đề u hợ p phá p.
Lờ i khai củ a bị cá o tạ i phiên tò a hôm nay phù hợ p vớ i lờ i khai củ a bị cá o tạ i
giai đoạ n điề u tra , truy tố , phù hợp với các tài liệu , chứ ng cứ như : Biên bả n bắ t ngườ i phạ m tộ i quả tang lậ p hồ i 11 giờ 40 phút ngày 12/11/2017 (bút lục số 03 - 06); Biên bả n niêm phong vậ t chứ ng l ập hồi 12 giờ 25 phút ngày 12/11/2017 (bút lục số 26); Biên bản quản lý và kiểm tra xe máy điện lập hồi 12 giờ 30 phút ngày 12/11/2017 trụ sở Phòng PK20, Công an tỉnh Thái Bình (bút lục số 32); Bản kết luận giám định số 431/KLGĐ-PC54 ngày 12/11/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình (bút lục số 41); Cùng các tài liệu , chứ ng cứ khá c có trong hồ sơ vụ á n.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạ m quy đị nh
quản lý chất gây nghiện của Nhà nước . Ma túy là vật cấm lưu hành, không những làm sa sút về sức khỏe trí tuệ con người mà nó còn làm hủy hoại đạo đức nhân cách con người, là tác nhân lan truyền đại dịch HIV/AIDS, là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm khác gây ả nh hưở ng đế n trậ t tự trị an.
Bị cáo là người trên 18 tuổ i, có đầy đủ năng lự c nhậ n thứ c và điề u khiể n
hành vi của mình.
Bị cáo đã có hành vi cố ý tàng trữ trái phép ma túy mục đích để sử dụng cho
bản thân. Theo Kế t luậ n giá m đị nh củ a Phò ng kỹ thuậ t hì nh sự Công an tỉ nh Thá i Bình thì số ma tú y bị cá o tà ng trữ là loạ i Heroine, trọng lượng 0,1712 gam. Vì vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
, tộ i phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điề u 194 Bộ luậ t Hì nh sự năm 1999.
Điề u 194 Bộ luậ t hì nh sự năm 1999 quy đị nh:
“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.
Điề u 249 Bộ luậ t hì nh sự năm 2015 quy đị nh:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: …
c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;…”
Bị cáo Nguyễn Thanh T bị truy tố về tội tàng trữ trái phép chất ma túy bị cáo bị áp dụng khoản 1 Điề u 194 Bộ luậ t Hì nh sự năm 1999 mứ c hì nh phạ t tù từ 02 năm đế n 07 năm là cao hơn so vớ i mứ c hì nh phạ t tù từ 01 năm đế n 05 năm quy đị nh tạ i khoản 1 Điề u 249 Bộ luậ t hình sự năm 2015. Căn cứ và o nhữ ng quy đị nh có lợi cho bị cáo do thay đổ i chí nh sá ch phá p luậ t Hì nh sự củ a Nhà nướ c có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 thì bị cáo được áp dụng theo khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điề u 249 Bộ luậ t Hì nh sự năm 2015; Và căn cứ vào tính chất, mứ c độ phạ m tộ i, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự , nhân thân củ a bị cá o , Hội đồng xét xử xét thấy cần lên mộ t mứ c á n tương xứ ng vớ i hà nh vi phạ m tộ i củ a bị cá o đã gây ra, như vậ y mớ i có tác dụng giáo dục , răn đe đố i vớ i bị cá o , phòng ngừa chung , nhưng khi lượng hình xem xét cân nhắc giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật.
Xem xé t nhân thân và cá c tì nh tiế t giả m nhẹ , tăng nặ ng trá ch nhiệ m hì nh sự
của bị cáo thấy: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên đượ c hưở ng tì nh tiế t giả m nhẹ quy đ ịnh tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
- Bị cáo không có tiền án , tiề n sự , nhưng là người có nhân thân xấu - bị cáo đã có 02 lần bị áp dụng biện pháp đưa vào Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội và 01 bản án về tội “Trộm cắp tài sản” bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xử 03 tháng tù giam, bị cáo đã chấp hành xong bản án. Thời gian bị cáo đi chấp hành hình phạt, bị cáo không lấy đó làm bài học để sửa chữa lỗi lầm mà tiế p tụ c thự c hiệ n hà nh vi vi phạ m phá p luậ t , thể hiệ n bị cá o là ngườ i không tôn trọng pháp luật. Khi lượng hình Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo khỏi xã hộ i mộ t thờ i gian mớ i đủ sứ c răn đe , giáo dục bị cáo, đồng thời phòng ngừa chung cho toà n xã hộ i . Tuy nhiên khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
- Về nguồ n gố c số ma tú y , theo T khai mua của một người nam giới khoảng 45 tuổ i, không quen biế t tạ i khu vự c tổ 37a, đường P, phường K, thành phố T nên Cơ quan điề u tra không có căn cứ để điề u tra, xử lý là phù hợ p.
* Về vật chứng vụ án:
- Số ma tú y th u giữ củ a bị cá o Nguyễn Thanh T là vật thuộc loại Nhà nước
cấ m lưu hà nh nên cầ n tị ch thu tiêu hủ y.
- Chiếc xe máy điện 17MD9-073.96 là của anh Nguyễn Trần T, sinh năm 1977, trú tại: Tổ 06, phường Đ, thành phố T. Anh T đã cho T mượn xe, nhưng anh T không biết T sử dụng xe đi mua ma túy. Ngày 20/11/2017 Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho anh T, anh T nhận lại tài sản, không có yêu cầu, đề nghị gì.
- Đối với chiếc điện thoại Samsung màu trắng và số tiền 540.000 đồng là tài sản của Nguyễn Thanh T không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo. Vì vậy cần trả lại cho bị cáo, nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
* Về á n phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾ T ĐỊ NH
1. Tuyên bố: Bị cáoNguyễn Thanh T phạm tội“Tà ng trữ trá i phé p chấ tma tú y”.
2. Hình phạt: Áp dụng điểm c khoả n 1 Điề u 249; khoản 3 Điều 7; điểm s, khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luậ t Hì nh sự năm 2015.
Xử phạ t bị cá o Nguyễn Thanh T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thờ i hạ n
tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ 12/11/2017.
3. Về xƣ̉ lý vậ t chƣ́ ng: Áp dụng Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điề u 106 Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sự .
- Tịch thu tiêu hủy số heroine còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 431/KLGĐ-PC54 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.
- Chấp nhận Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe máy điện nhãn hiệu Surika Primavera, màu đỏ xám 17MD9-073.96 cho anh Nguyễn Trần T, sinh năm 1977, trú tại: Tổ 06, phường Đ, thành phố T, anh T nhận lại tài sản và không có đề nghị gì.
- Trả lại bị cáo Nguyễn Thanh T 01 chiếc điện thoại Samsung màu trắng và số tiền 540.000 đồng (như mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng). Nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
4. Về á n phí: Áp dụng khoản 2 Điề u 135 Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sự ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộ c bị cá o Nguyễn Thanh T phải nộp 200.000 đồ ng á n phí hì nh sự sơ thẩ m.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án s ơ thẩ m 12/11/2017./.
Nơi nhậ n:
| - Ngườ i tham gia tố tụ ng; - VKSND TP. Thái Bình; - Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình; - Sở Tư phá p tỉ nh Thá i Bì nh; - Chi cụ c THADS TP.Thái Bình; - Công an thà nh phố Thá i Bì nh; - Lưu hồ sơ vụ á n. | T/M HỘ I ĐỒ NG XÉ T XƢ̉ SƠ THẨ M Thẩ m phá n – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Xuân Huyền |