vanban.org

Bản án 10/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Về con chung: Giao cháu Trịnh Thị Tố Nh, sinh ngày 11/11/2011 cho bà Phùng Thị Ph trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Ph không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Ông T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 24 - 01 - 2018
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NINH HÒA, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đăng Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Chung

Bà Trần Thị Hiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Bích Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 24/01/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 622/2017/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2017 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2017; Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2018/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phùng Thị Ph

Cư trú tại: Thôn Trường Lộc, xã Ninh Hưng, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Trịnh Quốc Th

Cư trú tại: Thôn Trường Lộc, xã Ninh Hưng, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phùng Thị Ph trình bày: Bà và ông Trịnh Quốc Th kết hôn năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ninh Hưng, thị xã Ninh Hòa. Quá trình chung sống của vợ chồng không hạnh Ph do ông Th đam mê cờ bạc và có người phụ nữ khác bên ngoài, không quan tâm đến vợ con. Bà đã nhiều lần khuyên ông Th thay đổi Nhng ông Th vẫn tính nào tật đó mà còn chửi mắng, đánh đập bà. Bà và ông Th không còn chung sống với nhau nên không ai còn quan tâm đến cuộc sống của ai nữa. Nay tình cảm của bà dành cho ông Th không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông Trịnh Quốc Th. Về con chung: Vợ chồng bà có 01 con chung là Trịnh Thị Tố Nh, sinh ngày 11/11/2011. Bà yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng và không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa giải quyết.

Bị đơn ông Trịnh Quốc Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần Nhng cố tình trốn tránh không có mặt nên không có bản tự khai và không tiến hành hòa giải được.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa tại phiên tòa sơ thẩm:

+ Về chấp hành pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm nhân dân và nguyên đơn đã chấp hành đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn ông Trịnh Quốc Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai Nhng vẫn vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa nhận thấy có đủ cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Phùng Thị Ph được ly hôn với ông Trịnh Quốc Th. Về con chung: bà Ph có công việc làm và thu nhập ổn định nên giao cháu Nh cho bà Thủy trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Bà Ph không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Bà Ph không yêu cầu Tòa giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Ông Trịnh Quốc Th có hộ khẩu thường trú tại: thôn Trường Lộc, xã Ninh Hưng, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Ông Th đang cư trú và sinh sống tại địa phương Nhng cố tình trốn tránh không đến Tòa án để giải quyết vụ án. Tòa án đã tiến hành các thủ tục niêm yết và tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Do vậy, căn cứ vào khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 39; Điều 207, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là có căn cứ.

Về nội dung vụ án: Bà Phùng Thị Ph và ông Trịnh Quốc Th tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ninh Hưng, thị xã Ninh Hòa, đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống của vợ chồng bà Ph và ông Th không hạnh Ph do ông Th đam mê cờ bạc, có nguời phụ nữ khác bên ngoài, bà khuyên nhủ thì ông Th không thay đổi mà còn đánh đập bà nên mâu thuẫn gia đình thường xuyên xảy ra và kéo dài, khả năng hàn gắn tình cảm và đoàn tụ gia đình không còn. Hiện nay, bà Ph và ông Th không còn quan tâm đến nhau. Hơn nữa, ông Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần Nhng vẫn cố tình không đến Tòa làm việc, chứng tỏ ông Th không có thiện chí muốn hàn gắn hạnh Ph gia đình với bà Ph. Hội đồng xét xử thấy rằng tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Nguyên đơn là phù hợp và thỏa đáng.

Về con chung: Bà Ph và ông Th có 01 con chung là Trịnh Thị Tố Nh, sinh ngày 11/11/2011. Nguyện vọng của bà Ph được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nh. Xét thấy, hiện nay bà Ph có công việc làm và thu nhập ổn định, hơn nữa từ trước cho đến nay việc nuôi dưỡng cháu Nh do bà Ph đảm nhiệm, ông Th không có trách nhiệm với vợ con nên để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu Nh cần tiếp tục giao cháu Nh cho bà Ph trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Bà Ph không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con nên Tòa không xem xét.

Về tài sản chung: Bà Ph không yêu cầu Tòa giải quyết.

Về án phí: Bà Phùng Thị Ph phải chịu án phí HNGĐ sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015;

- Căn cứ khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 39; Điều 207, Điều 227; Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Nghị quyết án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Bà Phùng Thị Ph được ly hôn với ông Trịnh Quốc Th.

- Về con chung: Giao cháu Trịnh Thị Tố Nh, sinh ngày 11/11/2011 cho bà Phùng Thị Ph trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Ph không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con.

Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Ông Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

- Về tài sản chung: Bà Ph không yêu cầu Tòa giải quyết.

2. Về án phí: Bà Phùng Thị Ph phải chịu 300.000 đồng án phí HNGĐ sơ thẩm, Nhng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2016/0003328 ngày 16/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa. Bà Ph đã nộp đủ án phí HNGĐ sơ thẩm.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;

Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ