vanban.org

Bản án 10/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.

Chấp nhận đơn khởi kiện Ngân hàng TMCP Bưu Điện L đối Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Tuyên xử: Buộc Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M có đại diện theo pháp luật là ông Hoàng Thanh Viễn, chức vụ: giám đốc phải trả cho Ngân hàng TMCP Bưu Điện L số t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "NH Bưu điện Liên Việt kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với Công Ty Minh nhật"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 463 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LIÊN CHIỂU-TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2018/DS-ST
Ngày 29 tháng 11 năm 2018
V/v: “tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU TP ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thanh Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Bạo và ông Nguyễn Công Chi

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Kim Ánh - Thư ký Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ái Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2018 tại Hội trường xét xử, Toà án nhân dân quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 15/2018/TLST-KDTM ngày 15 tháng 6 năm 2018 về “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2018/QĐXX-KDTM ngày 26 tháng 10 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2018/QĐST-KDTM ngày 12.11.2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Bưu Điện L; Địa chỉ: Tòa nhà Capital Tower, số 109 Trần Hưng Đạo, phường Cửa Nam, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Doãn Sơn – Chức vụ: Tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - sinh năm 1990 hoặc bà Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh - sinh năm 1981; Cùng trú tại: Số 140 Nguyễn Thị Minh Khai, quận Hải Châu, TP Đà Nẵng. (Theo giấy ủy quyền số 285/2018/QĐ-LienVietPostBank.ĐN ngày 16.7.2018). Có mặt

- Bị đơn: Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M; Địa chỉ trụ sở theo giấy đăng ký kinh doanh: Số 56 Phạm Như Xương, phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng. Đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Thanh Viễn - Chức vụ: Giám đốc. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện cũng như quá trình giải quyết bà Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 17.8.2017 Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M do ông Hoàng Thanh Viễn, chức vụ: giám đốc là người đại diện theo pháp luật có ký hợp đồng vay vốn số HDTD41020170125 với Ngân hàng TMCP Bưu Điện L vay số tiền 480.000.000 đồng, phương thức cho vay là vay từng lần, thời hạn vay là 05 năm, lãi suất vay do hai bên tự thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật. Ngày 18.8.2017 ngân hàng đã giải ngân số tiền vay cho Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M.

Để đảm bảo khoản tiền vay trên Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M đã thế chấp tài sản là xe ô tô BKS 43C-164.99 là tài sản thuộc quyền sở hữu của Công ty Minh Nhật theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 042649 do Phòng cảnh sát giao thông - Công an thành phố Đà Nẵng cấp ngày 14.8.2017 theo Hợp đồng thế chấp số HDTC41020170125 ngày 17.8.2017 đã đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký giao dịch tài sản TP Đà Nẵng ngày 18.8.2017 có số đăng ký 1259207072

Trong thời gian vay, Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M đã thanh toán được 01 kỳ là 12.429.457 đồng trong đó nợ gốc là 8.000.000 đồng và nợ tiền lãi tính đến ngày 20.9.2017 là 4.429.457 đồng. Tuy nhiên cho đến nay không thực hiện theo nghĩa vụ cam kết đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký. Ngân hàng đã làm việc nhiều lần với Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M có cam kết trả nhưng cho đến nay phía bên bị đơn vẫn chưa thanh toán cho Ngân hàng. Ngân hàng TMCP Bưu Điện L yêu cầu Tòa án buộc Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M phải thanh toán số tiền còn nợ tính đến ngày 25.5.2018 là 497.392.166 đồng (Bốn trăm chín mươi bảy triệu, ba trăm chín mươi hai ngàn, một trăm sáu mươi sáu đồng). Trong đó nợ gốc: 472.000.000 đồng, nợ lãi 25.392.166 đồng (lãi trong hạn: 23.080.099 đồng, lãi quá hạn: 2.312.067 đồng).

Nếu Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M không thanh toán được số nợ nêu trên thì được đề nghị phát mãi tài sản thế chấp là Xe Ô tô tải theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 042649 do Phòng cảnh sát giao thông - Công an thành phố Đà Nẵng cấp ngày 14.8.2017 đứng tên Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M để thu hồi nợ.

* Bị đơn đại diện theo pháp luật của bị đơn có ông Hoàng Thanh Viễn - Chức vụ giám đốc trình bày:

Tôi xác nhận ngày 17.8.2017 phía bên Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M có ký hợp đồng tín dụng số HDTD41020170125 với Ngân hàng TMCP Bưu Điện L vay số tiền 480.000.000 đồng. Nhưng vì lí do Công ty làm ăn thua lỗ nên không thanh toán nợ cho Ngân hàng đúng như cam kết. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Công ty trả toàn bộ số nợ tạm tính đến ngày 25.5.2018 là 497.392.166 đồng (Bốn trăm chín mươi bảy triệu, ba trăm chín mươi hai ngàn, một trăm sáu mươi sáu đồng). Trong đó nợ gốc: 472.000.000 đồng, nợ lãi 25.392.166 đồng (lãi trong hạn: 23.080.099 đồng, lãi quá hạn: 2.312.067 đồng). Phía bên Công ty có thế chấp cho Ngân hàng Xe Ô tô tải theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 042649 do Phòng cảnh sát giao thông - Công an thành phố Đà Nẵng cấp ngày 14.8.2017 đứng tên Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M. Tôi đồng ý với khoản nợ nêu trên và đề nghị được thanh toán như sau: Tôi mong muốn lấy xe về nộp cho Ngân hàng hoặc nộp tiền để rút giấy tờ xe ra.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu:

- Về thủ tục tố tụng: về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Theo đó việc thụ lý vụ án, tổ chức hòa giải, thu thập chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng và việc chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu của Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đều thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

-Về nội dung vụ án: đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ tính đến ngày 25.5.2018 là 497.392.166 đồng (Bốn trăm chín mươi bảy triệu, ba trăm chín mươi hai ngàn, một trăm sáu mươi sáu đồng). Trong đó nợ gốc: 472.000.000 đồng, nợ lãi 25.392.166 đồng (lãi trong hạn: 23.080.099 đồng, lãi quá hạn: 2.312.067 đồng) và tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 26.5.2018 theo hợp đồng vay vốn số HDTD41020170125 ngày 17.8.2017 cho đến khi thanh toán xong khoản tiền vay.

Trong trường hợp bị đơn không trả được nợ thì đề nghị xử lý tài sản thế chấp theo quy định tại Điều 303 Bộ luật dân sự.

Án phí KDTM sơ thẩm bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa Ngân hàng TMCP Bưu Điện L với Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho đương sự vắng mặt theo quy định tại Điều 208, 209, 210, 211 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, các đương sự không xuất trình thêm chứng cứ mới.

Về nội dung vụ án: Xét yêu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Bưu Điện L với Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M thì thấy:

Vào ngày 17.8.2017 Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M do ông Hoàng Thanh Viễn, chức vụ: giám đốc là người đại diện theo pháp luật có ký hợp đồng vay vốn số HDTD41020170125 với Ngân hàng TMCP Bưu Điện L vay số tiền 480.000.000 đồng, phương thức cho vay là vay từng lần, thời hạn vay là 05 năm, lãi suất vay do hai bên tự thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật. Ngày 18.8.2017 ngân hàng đã giải ngân số tiền vay cho Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M.

Để đảm bảo khoản tiền vay trên Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M đã thế chấp tài sản là xe ô tô BKS 43C-164.99 là tài sản thuộc quyền sở hữu của Công ty Minh Nhật theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 042649 do Phòng cảnh sát giao thông - Công an thành phố Đà Nẵng cấp ngày 14.8.2017 theo Hợp đồng thế chấp số HDTC41020170125 ngày 17.8.2017 đã đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trugn tâm Đăng ký giao dịch tài sản TP Đà Nẵng ngày 18.8.2017 có số đăng ký 1259207072

Trong thời gian vay, Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M đã thanh toán được 01 kỳ. Tuy nhiên cho đến nay không thực hiện theo nghĩa vụ cam kết đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký. Ngân hàng đã làm việc nhiều lần với Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M có cam kết trả nhưng cho đến nay phía bên bị đơn vẫn chưa thanh toán cho Ngân hàng. Ngân hàng TMCP Bưu Điện L yêu cầu Tòa án buộc Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M phải thanh toán số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 25.5.2018 là 497.392.166 đồng (Bốn trăm chín mươi bảy triệu, ba trăm chín mươi hai ngàn, một trăm sáu mươi sáu đồng). Trong đó nợ gốc: 472.000.000 đồng, nợ lãi 25.392.166 đồng (lãi trong hạn: 23.080.099 đồng, lãi quá hạn: 2.312.067 đồng) và lãi phát sinh theo hợp đồng tính từ ngày 26.5.2018 cho đến khi thanh toán xong khoản tiền vay.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M xác nhận còn nợ Ngân hàng TMCP Bưu Điện L số tiền như trên và mong muốn lấy xe về nộp cho Ngân hàng hoặc nộp tiền để rút giấy tờ xe ra.

Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án cũng như trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa hôm nay bị đơn Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M có đại diện theo pháp luật là ông Hoàng Thanh Viễn, chức vụ: giám đốc xác định hiện còn nợ Ngân hàng TMCP Bưu Điện L số tiền nợ còn lại tính đến ngày 25.5.2018 là 497.392.166 đồng (Bốn trăm chín mươi bảy triệu, ba trăm chín mươi hai ngàn, một trăm sáu mươi sáu đồng). Trong đó nợ gốc: 472.000.000 đồng, nợ lãi 25.392.166 đồng (lãi trong hạn: 23.080.099 đồng, lãi quá hạn: 2.312.067 đồng) và lãi phát sinh theo hợp đồng tính từ ngày 26.5.2018 cho đến khi thanh toán xong khoản tiền vay. Nên yêu cầu khởi kiện đòi tiền vay của Ngân hàng đối Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M là có căn cứ, phù hợp Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng. Vì quá trình vay tiền Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, do đó HĐXX chấp nhận yêu cầu của đại diện Ngân hàng, buộc Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M có đại diện theo pháp luật là ông Hoàng Thanh Viễn, chức vụ: giám đốc phải trả cho Ngân hàng TMCP Bưu Điện L số tiền nợ còn lại tính đến ngày 25.5.2018 là 497.392.166 đồng (Bốn trăm chín mươi bảy triệu, ba trăm chín mươi hai ngàn, một trăm sáu mươi sáu đồng). Trong đó nợ gốc: 472.000.000 đồng, nợ lãi 25.392.166 đồng (lãi trong hạn: 23.080.099 đồng, lãi quá hạn: 2.312.067 đồng) và lãi phát sinh theo hợp đồng tính từ ngày 26.5.2018 cho đến khi thanh toán xong khoản tiền vay

Xử lý tài sản thế chấp: Trường Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M có đại diện theo pháp luật là ông Hoàng Thanh Viễn, chức vụ: giám đốc không trả số tiền nêu trên thì tài sản mà Công ty Minh Nhật đã thế chấp cho Ngân hàng là: xe ô tô BKS 43C-164.99 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 042649 do Phòng cảnh sát giao thông - Công an thành phố Đà Nẵng cấp ngày 14.8.2017 theo Hợp đồng thế chấp số HDTC41020170125 ngày 17.8.2017 đã đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký giao dịch tài sản TP Đà Nẵng ngày 18.8.2017 có số đăng ký 1259207072.

Ngân hàng TMCP Bưu Điện L có quyền yêu cầu xử lý phát mãi tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật (Điều 303 BLDS 2015).

Khi Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng Liên Việt thì Ngân hàng phải có trách nhiệm trả cho Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M: giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 042649 do Phòng cảnh sát giao thông - Công an thành phố Đà Nẵng cấp ngày 14.8.2017 đứng tên Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M

Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

+ Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M phải chịu là 23.895.690 đồng (hai mươi ba triệu, tám trăm chín mươi lăm ngàn, sáu trăm chín mươi đồng).

+ Ngân hàng TMCP Bưu Điện L không phải chịu án phí kinh doanh thương sơ thẩm nên được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí 11.947.843 đồng (mười lăm triệu, hai trăm năm mươi ngàn đồng) theo Biên lai thu số 0002974 ngày 15.6.2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: - Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;

- Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Chấp nhận đơn khởi kiện Ngân hàng TMCP Bưu Điện L đối Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Tuyên xử: Buộc Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M có đại diện theo pháp luật là ông Hoàng Thanh Viễn, chức vụ: giám đốc phải trả cho Ngân hàng TMCP Bưu Điện L số tiền nợ tính đến ngày 25.5.2018 là 497.392.166 đồng (Bốn trăm chín mươi bảy triệu, ba trăm chín mươi hai ngàn, một trăm sáu mươi sáu đồng). Trong đó nợ gốc: 472.000.000 đồng, nợ lãi 25.392.166 đồng (lãi trong hạn: 23.080.099 đồng, lãi quá hạn: 2.312.067 đồng) và lãi phát sinh tính từ ngày 26.5.2018 theo hợp đồng số HDTD41020170125 ngày 17.8.2017 cho đến khi thanh toán xong khoản tiền vay.

Trường Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M có đại diện theo pháp luật là ông Hoàng Thanh Viễn, chức vụ: giám đốc không trả số tiền nêu trên thì tài sản mà Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M đã thế chấp cho Ngân hàng là: xe ô tô BKS 43C-164.99 theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 042649 do Phòng cảnh sát giao thông - Công an thành phố Đà Nẵng cấp ngày 14.8.2017 theo Hợp đồng thế chấp số HDTC41020170125 ngày 17.8.2017 đã đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký giao dịch tài sản TP Đà Nẵng ngày 18.8.2017 có số đăng ký 1259207072.

Ngân hàng TMCP Bưu Điện L có quyền yêu cầu xử lý phát mãi tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật (Điều 303 BLDS 2015).

Khi Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng Liên Việt thì Ngân hàng phải có trách nhiệm trả cho Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M: giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 042649 do Phòng cảnh sát giao thông - Công an thành phố Đà Nẵng cấp ngày 14.8.2017 đứng tên Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M

2. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

+ Công ty TNHH MTV Xây lắp và Kỹ thuật M phải chịu là 23.895.690 đồng (hai mươi ba triệu, tám trăm chín mươi lăm ngàn, sáu trăm chín mươi đồng).

+ Ngân hàng TMCP Bưu Điện L không phải chịu án phí kinh doanh thương sơ thẩm nên được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí 11.947.843 đồng (mười lăm triệu, hai trăm năm mươi ngàn đồng) theo Biên lai thu số 0002974 ngày 15.6.2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ