vanban.org

Bản án 10/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 22/06/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Xuân N1 phạm tội "Đánh bạc".

Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 điều 248; khoản 2, 3, 4 điều 30 BLHS: Xử phạt bị cáo Lê Xuân N1 số tiền: 3.000.000đ (Ba triệu đồng).

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Đánh bạc đối với bị cáo Lê Xuân N1 - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Xuân N1 phạm tội "Đánh bạc".
  • Căn cứ chính? Điều 30 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC HÀ
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 10/2017/HSST
Ngày 22/6/2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC HÀ - HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Lâm

Hội thẩm nhân dân:

- Ông Phan Đình Cƣơng.

- Ông Phan Tùng Long.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Thủy.

Đại diện VKSND huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà:

Ông Lê Trọng Hùng

-

Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 06 năm 2017 tại hội trƣờng xét xử, Tòa án nhân dân huyện Lộc Hà đƣa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2017/TLST-HS ngày 01/6/ 2017 đối với bị cáo:

Lê Xuân N1 - Tên gọi khác: Không.

Sinh ngày 10/10/1972 tại xã IH, huyện LH, tỉnh Hà Tĩnh.

Nơi cƣ trú: Thôn LT, xã IH, huyện LH, tỉnh Hà Tĩnh.

Số CMND: 38001619

Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: Lớp 7/12

Con ông: Lê Xuân L - (Đã chết) và bà: Lê Thị E - Sinh năm 1930.

Vợ: Trần Thị L - Sinh năm 1975 và 02 con, lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 1998

Tiền án, tiền sự: không.

Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/4/2017 đến nay.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 06/4/2015, Lê Xuân T, Trần Quốc V, Hoàng Văn M, Lê Xuân N1 đang đứng chơi ở sân bóng xã IH, huyện LH, Hà Tĩnh thì gặp Nguyễn Doãn B, Nguyễn Nhƣ D, Nguyễn Đức T cũng đi đến đó. Sau kkhi hai nhóm gặp nhau đƣợc một lúc thì Lê Xuân T nói với các đối tƣợng: “Vào nhà ông M đánh bạc khoảng một tiếng đến một tiếng rƣỡi ta nghỉ”. Khi nghe T nói vậy thì V, M, N1, B, D và T đồng ý nhƣng do xe máy hết xăng nên Nguyễn Nhƣ D và Nguyễn Doãn B phải đi đổ xăng, còn T , V, M , T ,N1 đi vào nhà Hoàng Văn M trƣớc. Khi vào khu vực nhà bếp thì thấy đã có sẵn bát đĩa và có một chiếc chiếu trải trên nền nhà bếp, lúc này Lê Xuân T nói Hoàng Văn Q (là con trai M 2001) trải thêm một chiếc chiếu nữa để đánh bạc. Sau đó Lê Xuân T lấy quân bài 4 rô của bộ bài Tú lơ khơ có sẵn ở trong phòng cắt thành 04 “quân vị” rồi T, N1, V, Mùi cùng đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa, Lê Xuân N1 là ngƣời cầm cái, còn Nguyễn Đức T thì đi vệ sinh nên vào sau. Hình thức đánh bạc nhƣ sau: Trong 4 “quân vị” đƣợc ngƣời cầm cái xóc cho những ngƣời đặt cửa, nếu khi xóc có 03 con mặt đen và 01 con mặt trắng hoặc 03 con mặt trắng và 01 con mặt đen là “lẻ”, nếu cả 04 đều là mặt đen hoặc đều là mặt trắng, hoặc 02 con mặt trắng và 2 con mặt đen là “chẵn”, nếu ngƣời đặt cửa “chẵn” mà khi xóc đƣợc “chẵn” thì sẽ thắng số tiền tƣơng đƣơng với số tiền đã đặt cửa, nếu là “lẻ” phải mất số tiền đặt của cho ngƣời cầm cái và ngƣợc lại. Các bị cáo thống nhất mức đánh bạc mỗi ván đánh trong gian đoạn này là mỗi ngƣời đặt từ 50.000đ đến 200.000đ, lƣợng tiền trung bình trong mỗi ván đánh là 250.000đ. các bị can đánh đƣợc một lúc thì có thêm Lê Tử T và Trần Đức C, nhƣng vì C không có tiền nên chỉ có T vào đánh bạc. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì Nguyễn Nhƣ D và Nguyễn Doãn B quay lại sân bóng nhƣng không thấy ai nên D đã gọi điện hỏi Trần Quốc V là đánh bạc ở đâu. V nói đang ở nhà M, thì D và B đến cùng tham gia đánh bạc. Lúc đó Lê Xuân T nói với Hoàng Văn M ra ngoài xem có ai muốn đánh bạc nữa không để vào tham gia luôn nên M đã đi ra hàng rào trƣớc cửa nhà mình thì thấy Trần Quốc T đang đi bộ đến tìm Nguyễn Nhƣ D để lấy xe máy do D mƣợn, M nói với T: “Bọn chúng nó đang chơi bên nhà tau có chơi thì vào?” thì T đồng ý và đi vào nhà M cùng tham gia đánh bạc. Lúc này Lê Xuân N1 cầm cái xóc thêm đƣợc khoảng 2 đến 3 ván thì Trần Quốc V nói với N1 “Xóc mà không ăn đƣợc thì để cho ngƣời ta xóc” nên N1 để cho Lê Xuân T cầm cái thay. Giai đoạn T cầm cái thì T đã đứng ra thu tiền hồ của những ngƣời tham gia đánh bạc đƣợc 750.000đ rồi đƣa cho con trai M là Hoàng Văn Q. Hoàng Văn M biết việc T thu tiền hồ của các con bạc đƣa cho Q, nhƣng không biết số lƣợng cụ thể nên đã nói với Q đi mua thuốc lá, nƣớc ngọt và Q đã mua 150.000đ tiền thuốc lá, nƣớc ngọt cho các đối tƣợng đánh bạc, số tiền 600.000đ còn lại Q đƣa cho Mùi 300.000đ, còn 300.000đ Q giữ lại. Hoàng Văn M đã sử dụng 300.000đ đó để đánh bạc luôn. Lê Xuân T cầm cái xóc cho V, T, M, D, B, T, Th cùng đánh, còn Trần Đức C do không có tiền nên đã hỏi vay của T 1.000.000đ rồi cùng tham gia đánh bạc. Qúa trình đánh bạc, Nguyễn Đức T đã lấy nợ từ Lê Xuân T 2.000.000đ mà T đã vay trƣớc đó để sử dụng đánh bạc. Trong giai đoạn T cầm cái mỗi ván mỗi ngƣời tham gia đánh bạc đặt cƣợc từ 100.000đ đến 500.000đ, lƣợng tiền (tổng các cửa đặt “chẵn”, “lẽ”) ít nhất trong mỗi ván đánh là khoảng 1.000.000đ, nhiều nhất là khoảng 2.500.000đ, lƣợng tiền trung bình trong mỗi ván đánh là khỏang 1.500.000đ. Đánh đƣợc một lúc thì Trần Quốc V đi về, còn Nguyễn Nhƣ D dẫn Trần Quốc T đi về nhà mình lấy xe máy mà D đã mƣợn của T trƣớc đó chƣa trả, tuy nhiên T lại không lấy xe nữa mà cùng D quay lại nhà Hoàng Văn M tiếp tục tham gia đánh bạc. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, Trần Quốc V quay lại nhà Hoàng Văn M gặp vợ M là Lê Thị N hỏi vay 1.000.000đ để lấy tiền đi miền Nam, chị N đồng ý cho V vay. Sau khi có đƣợc số tiền trên, Trần Quốc V đi vào khu vực nhà bếp ngồi xem đánh bạc một lúc, rồi tiếp tục sử dụng số tiền đã vay của chị N để tham gia đánh bạc. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Trần Đức C đánh bạc thua hết tiền nên gọi điện cho Nguyễn Văn M ở xã BL, huyện LH là ngƣời làm nghề xe ôm đến chở C về. Khi anh M đi đến nơi thì C hỏi vay M số tiền 2.000.000đ. Sau khi vay đƣợc tiền, Trần Đức C vào nhà Hoàng Văn M trả nợ cho T 1.000.000 đã vay trƣớc đó và dùng 1.000.000đ còn lại tham gia đánh bạc tiếp. Đến khoảng 22 giờ 30 cùng ngày, Lê Xuân T gọi điện đến cho Lê Xuân N2 đến để trả cho T số tiền 1.500.000đ mà N2 đã vay của T trƣớc đó. Lê Xuân N2 liền đến nhà Hoàng Văn M đƣa số tiền 1.500.000đ trả cho T, đồng thời sử dụng số tiền 300.000đ còn lại trong ngƣời cùng tham gia đánh bạc, đến khoảng 23 giờ ngày 06/4/2015 thì bị tổ tuần tra công tác Công an huyện Lộc Hà phát hiện bắt quả tang. Khi phát hiện lực lƣợng Công an, các đối tƣợng tìm cách bỏ chạy và tẩu tán tiền, tang vật đánh bạc ra các khu vực xung quanh. Lúc này Lê Xuân N1 và Lê Xuân N2 chạy thoát đƣợc mà không bị bắt giữ. Đến ngày 07/4/2015 thì Lê Xuân N2 ra đầu thú tại cơ quan điều tra.

Ngày 01/9/2015, Tòa án nhân dân huyện Lộc Hà đã đƣa vụ án ra xét xử sơ thẩm, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội đã bị Viện kiểm sát truy tố. Tại bản án số 22/2015/HSST của Tòa án nhân dân huyện Lộc Hà đã xử phạt đối với Lê Xuân T mức án 10 tháng tù, Nguyễn Nhƣ D mức án 07 tháng tù, Nguyễn Doãn B 24 tháng tù, Trần Quốc T phạt tiền 10 triệu đồng, Lê Xuân N2 phạt tiền 10 triệu đồng, Trần Đức C 06 tháng tù, Lê Tử T 06 tháng tù cho hƣởng án treo, Nguyễn Đức T 06 tháng tù cho hƣởng án treo, Trần Quốc V 06 tháng tù cho hƣởng án treo đều về tội “Đánh bạc; xử phạt bị cáo Hoàng Văn M 09 tháng tù về tội “Đánh bạc” và 12 tháng tù về tội “Gá bạc”.

Còn Lê Xuân N1 đã bỏ trốn khỏi địa phƣơng nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Lộc Hà đã tách vụ án và tạm đình chỉ vụ án, bị can sau khi hết thời hạn điều tra. Ngày 20/4/2017 Lê Xuân N1 đã bị Công an phƣờng Bình Trị Đông, quận Tân Bình, Tp Hồ Chí Minh bắt theo lệnh truy nã nên Cơ quan cảnh sát điều tra huyện Lộc Hà đã quyết định phục hồi điều tra vụ án, bị can đối với Lê Xuân N1. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Xuân N1 thừa nhận hành vi phạm tội của mình đã sử dụng số tiền 1.200.000 đ vào việc đánh bạc.

Về Vật chứng vụ án: Đã đƣợc giải quyết tại bản án số 22/2015/HSST ngày 01/9/2015 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Hà.

Bản cáo trạng số 09/Ctr-KSĐT ngày 30/5/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Lê Xuân N1 ra trƣớc Tòa án nhân dân huyện Lộc hà để xét xử về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Xuân N1 về tội Đánh bạc và đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1, khoản 3 điều 248; điểm h, điểm p khoản 1 điều 46 BLHS, xử phạt bị cáo Lê Xuân N1 từ 5 đến 7 tháng tù, xử phạt bổ sung số tiền từ 4.000.000đ đến 6.000.000đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lộc Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vào khoảng 23h ngày 06/4/2015, tại nhà riêng Hoàng Văn M ở thôn LT, xã IH, huyện LH, tỉnh Hà Tĩnh, bị cáo Lê Xuân N1 đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh xóc đĩa ăn thua bằng tiền với các đối tƣợng gồm Hoàng Văn M, Nguyễn Nhƣ D, Trần Quốc T, Lê Xuân Th, Nguyễn Đức T, Trần Quốc V, Lê Tử Th, Trần Đức C, Nguyễn Doãn B, Lê Xuân N2, với tang chứng số tiền đánh bạc là 49.420.000đ (Trong đó có số tiền 49.270.000đ thu giữ đƣợc trong khi bắt quả tang và truy thu đƣợc, còn lại số tiền 150.000đ con trai Hoàng Văn M là Hoàng Văn Q đã mua thuốc lá và nƣớc uống cho các đối tƣợng đánh bạc không thu hồi đƣợc). Trong vụ án này, bị cáo Lê Xuân N1 là ngƣời tham gia đánh bạc từ đầu và là ngƣời cầm cái đánh bạc với các đối tƣợng M, T, V, T. Sau khi chuyển cho T cầm cái thì N1 vẫn tiếp tục tham gia đánh bạc; số tiền bị cáo Lê Xuân N1 sử dụng vào mục đích đánh bạc là 1.200.000đ.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 248 BLHS thì: “Ngƣời nào đánh bạc trái phép dƣới bất kỳ hình thức nào đƣợc thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dƣới năm mƣơi triệu đồng hoặc dƣới hai triệu đồng nhƣng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại điều 249 của Bộ luật này, chƣa đƣợc xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mƣơi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm”. Nhƣ vậy hành vi sử dụng số tiền 1.200.000đ vào mục đích đánh xóc đĩa của bị cáo Lê Xuân N1 đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm Đánh bạc.

Xét tính chất vụ án, HĐXX xét thấy đây là vụ án đánh bạc bằng hình thức đánh “Xóc đĩa” gây hậu quả ít nghiêm trọng. Tuy nhiên vụ án xảy ra trong bối cảnh tình hình tội phạm có chiều hƣớng gia tăng, bị cáo là ngƣời có sức khỏe, có nhận thức và hiểu biết nhất định về pháp luật, đáng lẽ ra các bị cáo phải chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, chăm lo làm ăn nhƣng vì hám lợi, muốn kiếm tiền nhanh mà không phải lao động nên bị cáo đã đi vào con đƣờng phạm tội. Vụ án xẩy ra gây dƣ luận không tốt trong quần chúng nhân dân, ảnh hƣởng đến an ninh trật tự tại địa phƣơng. Do đó cần phải áp dụng khoản 1 điều 248 BLHS xử phạt bị cáo mức hình phạt đủ nghiêm, tƣơng xứng với hành vi phạm tội để bị cáo rèn luyện bản thân trở thành công dân lƣơng thiện đồng thời có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì bị cáo Lê Xuân N1 thực hiện hành vi phạm tội không thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì bị cáo Lê Xuân N1 đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ TNHS: "Phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng", đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại điểm h khoản 1 điều 46 BLHS; "Thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải", đây là hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đều đƣợc quy định tại điểm p khoản 1 điều 46 BLHS; bị cáo có bố và mẹ đẻ là ngƣời có công với cách mạng đƣợc Nhà nƣớc tặng thƣởng Huân chƣơng kháng chiến, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại khoản 2 điều 46 BLHS.

Xét về nhân thân thì bị cáo Lê Xuân N1 có nhân thân tốt, trƣớc khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo chƣa có tiền án, tiền sự.

Sau khi xem xét, đánh giá tính chất vụ án và hậu quả của tội phạm, động cơ, mục đích phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, HĐXX xét thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo Lê Xuân N1 ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện cải tạo bản thân trở thành công dân có ích cho xã hội.

Các đối tƣợng Hoàng Văn M, Nguyễn Nhƣ D, Trần Quốc T, Lê Xuân T, Nguyễn Đức T, Trần Quốc V, Lê Tử T, Trần Đức C, Nguyễn Doãn B, Lê Xuân N2 cùng vật chứng thu giữ đã đƣợc xử lý tại bản án hình sự sơ thẩm số 22/HSST ngày 01/9/2015 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Hà nên HĐXX miễn xét.

Tội phạm đánh bạc là loại tội phạm có động cơ về kinh tế, do đó HĐXX áp dụng khoản 3 điều 248 BLHS xử phạt bổ sung bằng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Xuân N1 phạm tội "Đánh bạc".

Áp dụng khoản 1 điều 248; điểm h, điểm p khoản 1, khoản 2 điều 46 BLHS, xử phạt bị cáo Lê Xuân N1 04 (Bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm tạm giam là ngày 21/4/ 2017.

Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 điều 248; khoản 2, 3, 4 điều 30 BLHS:

- Xử phạt bị cáo Lê Xuân N1 số tiền: 3.000.000đ (Ba triệu đồng).

Bị cáo phải nộp tiền phạt một lần trong thời hạn ba tháng kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật.

- Về án phí: Áp dụng điều 98; khoản 2 điều 99 BLTTHS; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH và danh mục mức án phí, lệ phí toà án ban hành kèm theo, xử buộc: Bị cáo Lê Xuân N1 phải nộp 200.000đ án phí HSST.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh để xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ