- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị H và anh T"
- Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Tạ Thị H và anh Đoàn Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án: 09/2023/HNGĐ-ST Ngày 8 - 03 - 2023 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huy Biên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Lâm Giang.
2. Ông Nguyễn Đức Sơn.
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thị Vân, thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huệ, Kiểm sát viên sơ cấp.
Ngày 8 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 317/2022/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 11 năm 2022 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/QĐXX-ST ngày 31 tháng 01 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2023/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Tạ Thị H, sinh năm 2003; địa chỉ: Thôn Đ, xã S, huyện T, tỉnh Bắc Giang, có mặt.
2. Bị đơn: Anh Đoàn Văn T, sinh năm 1999; địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn và các lời khai tiếp theo tại Tòa án chị Tạ Thị H trình bày: Chị kết hôn với anh Đoàn Văn T ngày 07/10/2021, trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện thỏa thuận đi đến cuộc sống chung, vợ chồng cưới hỏi theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Sau ngày cưới vợ chồng về chung sống cùng nhau ngay tại gia đình anh T, tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận, hạnh phúc.
Mâu thuẫn vợ chồng: Phát sinh từ đầu tháng 02/2022, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm lối sống, anh T chơi bời cờ bạc, chị đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh T không thay đổi dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 03/2022. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị giữ nguyên yêu cầu, đề nghị Toà án giải quyết cho chị và anh T được ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng chị không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản, công nợ chung: Chị xác định vợ chồng không có tài sản chung, không liên quan vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và công nợ.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Đoàn Văn T như: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa. Anh T không đến Tòa án làm việc và không cung cấp lời khai thể hiện quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tòa án đã về gia đình anh Đoàn Văn T và địa phương xác minh thu thập chứng cứ được biết: Chị Tạ Thị H và anh Đoàn Văn T kết hôn tháng 10/2021, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện T. Sau khi kết hôn chị H về gia đình anh T chung sống, khoảng tháng 02/2022 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh T bài bạc và không quan tâm đến gia đình, tháng 3/2022 chị H bỏ về bên ngoại vợ chồng sống ly thân từ đó. Chị H và anh T không có con chung, không có tài sản công nợ chung, nay chị H và anh T ly hôn đề nghị Tòa án căn cứ quy định pháp luật giải quyết.
Tại phiên toà chị Tạ Thị H vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Đoàn Văn T được ly hôn. Về con chung, tài sản và công nợ chung không có, không đề nghị Tòa án giải quyết. Anh Đoàn Văn T vắng mặt tại phiên tòa.
Đại diệnViện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên toà, Thẩm phán, Thư ký thực hiện đúng thủ tục tố tụng; tại phiên toà, Hội đồng xét xử tiến hành đúng trình tự, thủ tục của phiên toà sơ thẩm; nguyên đơn chị Tạ Thị H thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo pháp luật quy định; bị đơn anh Đoàn Văn T đã được Tòa án giao giấy triệu tập phiên tòa; tống đạt quyết định xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ, nhưng anh T vẫn vắng mặt tại phiên tòa, do vậy Tòa án xét xử vắng mặt anh T là đúng theo quy định.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 3 Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Tạ Thị H được ly hôn anh Đoàn Văn T.
Về con chung, tài sản, công nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Tạ Thị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tòa án đã tiến hành giao giấy triệu tập phiên tòa và quyết định xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ cho bị đơn anh Đoàn Văn T, nhưng anh T vẫn vắng mặt tại phiên tòa, vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn chị Tạ Thị H và các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa thì có cơ sở xác định như sau:
Chị Tạ Thị H kết hôn anh Đoàn Văn T ngày 07/10/2021 trên cơ sở hai bên được tự do tìm hiểu, tự nguyện thỏa thuận, vợ chồng tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Sau ngày cưới vợ chồng về chung sống cùng nhau ngay tại gia đình anh T, tình cảm ban đầu hòa thuận, hạnh phúc do vậy cần xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Nay chị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung và tài sản, công nợ chung; Tòa án thụ lý vụ án tranh chấp về Hôn nhân và Gia đình là đúng quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Mâu thuẫn vợ chồng: Phát sinh từ đầu tháng 02/2022, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm, lối sống không thống nhất được với nhau trong việc làm ăn phát triển kinh tế, anh T chơi bời cờ bạc, không quan tâm gia đình, vợ chồng sống ly thân từ tháng 03/2022. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng đã hết, cuộc sống chung không thể hàn gắn được, không còn khả năng đoàn tụ, do vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh T được ly hôn.
Căn cứ vào lời khai của chị Tạ Thị H, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa, xét thấy tình trạng hôn nhân của chị Tạ Thị H và anh Đoàn Văn T đã xảy ra căng thẳng trầm trọng, vợ chồng sống ly thân một thời gian, không còn quan tâm đến nhau, không có quan hệ tình cảm và không còn khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị H xin ly hôn, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị H, xử cho chị Tạ Thị H và anh Đoàn Văn T được ly hôn là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung, tài sản, công nợ chung: Chị H xác định vợ chồng không có con chung, không có tài sản chung, không liên quan vay nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và công nợ, do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Tạ Thị H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử
[1] Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Tạ Thị H và anh Đoàn Văn T.
[2] Về con chung: Chị Tạ Thị H và anh Đoàn Văn T không có, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[3] Về tài sản, công nợ chung: Không có, không đặt ra xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Chị Tạ Thị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị H đã nộp số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí; lệ phí Tòa án số: 0011938 ngày 10/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Khoản tiền này được chuyển thành án phí.
Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.
Án xử công khai sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh, huyện; - UBND xã Ngọc Châu; - Chi cục THADS huyện Tân Yên; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huy Biên |