vanban.org

Bản án 09 — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Kh«ng c«ng nhËn quan hệ vợ chồng giữa chị Quàng Thị X và anh Lò Văn T.

VÒ con chung: Chị Quàng Thị X được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Quàng Văn H, sinh ngày 28/7/2005 cho đến khi tHnh niên và có khả năng lao động, có tài sản để tự nuôi mình hoặc cho đến khi có thay đổi khác. Việc cấp dưỡng nuôi con chị X và anh T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Quàng Thị X, Lò Văn T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Kh«ng c«ng nhËn quan hệ vợ chồng giữa chị Quàng Thị X và anh Lò Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án
Toµ ¸n nh©n d©n
HuyÖn §iÖn Biªn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TØnh §iÖn Biªn
B¶n ¸n sè:09/2020/HNGĐ-ST
Ngµy 30/12/2020
V/v : Ly hôn
nh©n danh
n íc céng hoµ x· héi chñ nghÜa ViÖt nam
Toµ ¸n nh©n d©n HuyÖn ®iÖn biªn, TØnh ®iÖn biªn
- Thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:
ThÈm ph¸n Chñ to¹ phiªn toµ: Bµ Vũ Thị Thanh Thủy
C¸c Héi thÈm nh©n d©n: 1. Ông Nguyễn Quang Khải.
huyện Điện Biên.
Ông Trần Hồng Dương - Kiểm sát viên.
mở phiên tòa xÐt xö s¬ thÈm c«ng khai vô ¸n thụ lý sè: 18/2020/TLST - HNG§
ngµy 08 th¸ng 10 n¨m 2020 vÒ việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo
QuyÕt ®Þnh ® a vô ¸n ra xÐt xö sè: 05/2020/Q§XXST- HNGĐ ngµy 07/12/2020 và
Quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2020/QĐST – HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm
2020 gi÷a c¸c đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Quàng Thị X, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Đội 13, Bản C, xã T, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
* Bị đơn: Anh Lò Văn T, sinh năm 1984.
Nơi ĐKNKTT: Đội 14, xã T, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
tỉnh Điện Biên.
(Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 08/10/2020 và các bản tự khai tại Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, Chị Quàng Thị X(nguyên đơn)trình bày:

1. Về hôn nhân: Chị X và anh T chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 5/2004 nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Chung sống trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không ai bị ép buộc. Vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 8/2005 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, quan điểm sống bất đồng, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau, hai bên gia gia đình hòa giải nhưng mâu thuẫn không hòa giải được mà ngày càng trầm trọng. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8/2005 cho đến nay, không còn quan tâm gì tới nhau nữa. Chị X xét thấy tình cảm giữa chị và anh T không còn, cuộc sống chung giữa hai người không còn hạnh phúc, nên chị X đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

2. Về con chung: Chị X và anh T có 01 con chung là Quàng Văn H, sinh ngày 28/7/2005. Hiện cháu H đang ở với chị X từ khi vợ chồng ly thân. Quan điểm của chị X, con chung sẽ do chị X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi tHnh niên và có khả năng lao động. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về tài sản: Chị X khai tµi s¶n riªng; tài sản chung; nî ph¶i tr¶; nî lÊy vÒ; diÖn tÝch đất ruéng nương: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

T¹i b¶n tự khai của bị đơn khai ngµy 23/11/2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án anh Lò Văn T (bị đơn) tr×nh bày nh sau:

1. Về hôn nhân: Anh T và chị X chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 5/2004, không đi đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng sống hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 8/2005 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, quan điểm sống bất đồng, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau. Vợ chồng đã được cả hai bên gia đình nội – ngoại hòa giải nhưng mâu thuẫn không giải quyết được mà ngày càng trầm trọng. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 8/2005 cho đến nay, không còn đi lại, quan tâm gì đến nhau nữa. Chị X nộp đơn xin ly hôn anh T nhất trí.

2. VÒ con chung: Anh T và chị X có 01 con chung là Quàng Văn H, sinh ngày 28/7/2005. Quan điểm của anh T, con chung sẽ do chị X trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi tHnh niên và có khả năng lao động. Việc cấp dưỡng nuôi con không đề nghị Tòa án giải quyết.

3. VÒ tµi s¶n: Anh T khai tµi s¶n riªng; tài sản chung; nî ph¶i tr¶; nî lÊy vÒ; diÖn tÝch đất ruéng nương: Không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại biên bản xác minh ngày 30/11/2020, Ủy ban nhân dân xã Noong Luống huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên cung cấp như sau:

Chị X và anh T chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 5/2004, nhưng không đi đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống tại Bản C, xã T, huyện Điện Biên, anh chị chung sống hạnh phúc, đến tháng 8/2005 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, anh chị đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Tôi được biết anh chị đã sống ly thân được 15 năm nay rồi.

Chị X và anh T có 01 con chung là Quàng Văn H, sinh ngày 28/7/2005, hiện cháu H đang sống cùng chị X, nên việc giao H cho ai chăm sóc, nuôi dưỡng đề nghị Tòa án xem xét đến điều kiện về kinh tế và thời gian để đảm bảo cho sự phát triển về mọi mặt của cháu.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán thụ lý đúng thẩm quyền theo điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Tòa án nhận đơn khởi kiện, Chánh án phân công thẩm phán xem xét đơn, phân công thẩm phán, thư ký giải quyết vụ án theo Điều 47, 197 Bộ luật tố tụng dân sự; Thẩm phán xác định mối quan hệ pháp luật, chấp Hnh đúng theo khoản 1 Điều 28; Điều 48, 191 Bộ Luật tố tụng dân sự; thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng về xây dựng hồ sơ, thu thập chứng cứ đầy đủ, hợp pháp; thông báo cho đương sự và Viện kiểm sát đầy đủ các văn bản tố tụng; sau khi ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu trong thời hạn luật định. Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Thư ký Tòa án thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp Hnh đúng quy định của BLTTDS về quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến giải quyết vụ án:

- Về hôn nhân: Căn cứ khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Tòa án tuyên xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà chị Quàng Thị X và anh Lò Văn T.

- Về con chung: Giao cháu Quàng Văn H, sinh ngày 28/7/2005 cho chị X trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi tHnh niên và có khả năng lao động. Việc cấp dưỡng nuôi con chị X và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về quan hệ tài sản: Tµi s¶n riªng; tài sản chung; nî ph¶i tr¶; nî lÊy vÒ; diÖn tÝch đất ruéng nương: Chị X và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 BLTTDS và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án chị Quàng Thị X phải chịu 300.000 đồng án phí DSST.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiªn cøu c¸c tµi liÖu cã trong hå s¬ vô ¸n được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Héi ®ång xÐt xö nhËn ®Þnh:

. VÒ tố tụng: Quan hệ tranh chấp về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” giữa chị Quàng Thị X và anh Lò Văn T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên được quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Anh Lò Văn T đã được Tòa án giao Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng tại phiên tòa vắng mặt không có lý do. Ngày 23/12/2020 Tòa án nhân dân huyện Điện Biên đã ban Hnh Quyết định hoãn phiên tòa và ấn định phiên tòa mở lại vào ngày 30/12/2020, anh T có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến Hnh xét xử vụ án.

Về nội dung:

VÒ quan hệ hôn nhân: Tại đơn xin ly hôn, tại các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án chị Quàng Thị X và anh Lò Văn T đều khai và công nhận anh chị chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 5/2004, nhưng không đi đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Theo thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSDNTC-BTP ngày 03/01/2001 thì xác định mối quan hệ giữa chị X và anh T được coi là nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng. Chị X và anh T chung sống với nhau lµ tù nguyện. Vợ chồng sống hạnh phúc từ khi kết hôn đến tháng 8/2005 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, quan điểm sống bất đồng, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Vợ chồng đã được cả hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8/2005 cho đến nay, không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Chị X xác định tình cảm giữa chị và anh T không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc, nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, anh T công nhận những gì chị X trình bày là hoàn toàn đúng, anh đồng ý ly hôn không có ý kiến gì thắc mắc. Héi ®ång xÐt xö căn cứ vào Điều 9, Khoản 1 Điều 14, Khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Quàng Thị X và anh Lò Văn T.

. Về con chung: Chị X và anh T đều khai và công nhận vợ chồng có 01 con chung là: Cháu Quàng Văn H, sinh ngày 28/7/2005. Hiện cháu H đang ở với chị X, nguyện vọng của chị X xin được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu H cho đến khi tHnh niên và có khả năng lao động. Anh T đồng ý với nguyện vọng của chị X đồng ý giao cháu H cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc. Tại bản tự khai của cháu H khai vào ngày 30/11/2020 cháu H có nguyện vọng muốn được ở với mẹ. Việc giao cháu H cho ai chăm sóc, nuôi dưỡng cần xem xét về điều kiện, hoàn cảnh để cho cháu H có cuộc sống ổn định và sự phát triển về mọi mặt của cháu được tốt hơn. Mặt khác cháu H đã từ đủ 7 tuổi trở lên, nên Tòa xem xét vào nguyện vọng của cháu H muốn được ở với mẹ. Do vậy nguyện vọng của chị X, anh T, cháu H phù hợp với quy định của pháp luật. Căn cứ vào Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình HĐXX chấp nhận. Giao cháu Quàng Văn H cho chị X chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các tHnh niên và có khả năng lao động và có tài sản để tự nuôi mình hoặc cho đến khi có thay đổi khác. Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm con không ai được cản trở.

. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị X và anh T đều không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết việc đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung.

. VÒ tµi s¶n: Trong quá trình giải quyết vụ án chị X và anh T đều thống nhất thỏa thuận: Tµi s¶n riªng; tài sản chung; nî ph¶i tr¶; nî lÊy vÒ; diÖn tÝch đất ruéng nương: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên HĐXX không xem xét giải quyết.

.Về án phí: C¨n cø khoản 4 §iÒu 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 cña Uû ban thường vô Quèc héi vÒ ¸n phÝ, lÖ phÝ Toµ ¸n. Chị Bà Quàng Thị X ph¶i chÞu 300.000đ tiền ¸n phÝ d©n sù s¬ thÈm, chị X đã nộp tạm ứng số tiền 300.000đ theo biên lai số: AA/2020/0000774 ngày 08/10/2020 tại Chi cục thi Hnh án dân sự huyện Điện Biên. (Chị X đã nộp đủ ¸n phÝ d©n sù s¬ thÈm).

V× c¸c lÏ trªn;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 1 Điều 235; 264 và 267 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ vào Điều 9, khoản 1 ĐiÒu 14, Điều 15, Khoản 2 Điều 53; Điều 69, 70, 71; 72; 81; 82; 83; 84 của LuËt h«n nh©n vµ gia ®×nh n¨m 2014.

Tuyªn xö:

1. Về hôn nhân: Kh«ng c«ng nhËn quan hệ vợ chồng giữa chị Quàng Thị X và anh Lò Văn T.

2. VÒ con chung: Chị Quàng Thị X được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Quàng Văn H, sinh ngày 28/7/2005 cho đến khi tHnh niên và có khả năng lao động, có tài sản để tự nuôi mình hoặc cho đến khi có thay đổi khác.

Việc cấp dưỡng nuôi con chị X và anh T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở và có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các tHnh viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản: Tµi s¶n riªng; tài sản chung; nî ph¶i tr¶; nî lÊy vÒ; diÖn tÝch ruéng nương: Chị X, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: C¨n cø khoản 4 §iÒu 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 cña Uû ban thường vô Quèc héi vÒ ¸n phÝ, lÖ phÝ Toµ ¸n. Chị Bà Quàng Thị X ph¶i chÞu 300.000đ tiền ¸n phÝ d©n sù s¬ thÈm, chị X đã nộp tạm ứng số tiền 300.000đ theo biên lai số: AA/2020/0000774 ngày 08/10/2020 tại Chi cục thi Hnh án dân sự huyện Điện Biên. (Chị X đã nộp đủ ¸n phÝ d©n sù s¬ thÈm).

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/12/2020). Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có lý do được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án chính hoặc bản án được niêm yết./. Nơi nhận:

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Điện Biên;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện ĐB;

- Chi cục THA huyện ĐB;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án

- Lưu VP.

Vũ Thị Thanh Thủy

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

HỘI THẨM NHÂN DÂN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Kim Khánh Tùng

Vũ Thị Thanh Thủy

Lò Văn Ơn

Cỡ chữ