- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex – Chi nhánh Hà Nội.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị định số 11/2012/NĐ-CP Về sửa đổi, bổ sung một số điều c…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ- TP HÀ NỘI ----------- 09/2020/DS-ST Bản án số: Ngày: 28/02/2020 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯƠNG MỸ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI -
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tưởng Ngọc Tuấn
Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Tiến Lợi
Bà Nguyễn Thị Liên
Thư ký phiên toà: Ông Tô Mạnh Hà – Thư ký TAND huyện Chương Mỹ.
Đại diện VKSND huyện Chương Mỹ tham gia phiên toà: Bà Triệu Thị Hồng – Kiểm sát viên.
Ngày 28/02 /2020, tại trụ sở TAND huyện Chương Mỹ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự sơ thẩm thụ lý số 97/2019/TLST-DSST ngày 19 tháng 12 năm 2019 về việc Tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: /2019/QĐXX – DS, ngày 11/10/2019 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Xăng dầu Ptrolimex (PG Bank);
Địa chỉ: Tầng 16, 23, 24 tòa nhà Mipec, số 229 Tây Sơn, phường Ngã Tư
Sở, quận Đống Đa, Tp. Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông
Nguyễn Quang Định – Chức vụ: Tổng Giám đốc; Người đại diện theo ủy
quyền: Ông Lương Ngọc Thạch. Có mặt ông Thạch.
2.Bị đơn:
2.1. Ông Nguyễn Khắc Q, sinh năm 1965
2.2. Bà Tô Thị N, sinh năm 1966
Đều trú tại: Xóm Bụa, thôn Trung Cao, xã Trung Hòa, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.
Đều vắng mặt.
3.Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 2 -
3.1. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1991
3.2. Anh Nguyễn Khắc Q, sinh năm 1993
3.3. Anh Nguyễn Khắc P, sinh năm 1996
3.4. Chị Nguyễn Thị Thu U, sinh năm 1998
3.5. Chị Trần Thị T, sinh năm 1997
Đều trú tại: Xóm Bụa, thôn Trung Cao, xã Trung Hòa, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội.
Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1.Trong đơn khởi kiện nộp tại Tòa án và quá trình tiến hành tố tụng và tại phiên tòa; Đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn trình bày:
1.1. Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex (Gọi tắt là PGBANK ) ký kết hợp đồng tín dụng với ông Nguyễn Khắc Q, bà Tô Thị N theo Hợp đồng tín dụng số 101.0306/2016/HĐTD-CN/PGBHN ngày 01/03/2016 và Khế ước nhận nợ số 101.0306/2016/KƯNN-CN/PGBankHN ngày 03/03/2016 tại Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex – Chi nhánh Hà Nội, số tiền nhận nợ là: 350.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng chẵn); với chi tiết như sau:
- Số tiền vay: 350.000.000 đồng; Thời hạn vay: 120 tháng (kể từ ngày rút vốn đầu tiên);
- Mục đích vay: Thanh toán tiền xây sửa nhà.
Thực hiện Hợp đồng tín dụng này, PG Bank đã giải ngân cho khách hàng 01 lần với tổng số tiền là 350.000.000 đồng theo Khế ước nhận nợ số 101.0306/2016/KƯNN-CN/PGBankHN ngày 03/03/2016. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Q, bà N vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Kể từ ngày giải ngân khoản vay theo Hợp đồng tín dụng nêu trên, đến nay, bị đơn đã thanh toán cho PG Bank 20.419.000 đồng tiền nợ gốc. PGBANK đã nhiều lần thông báo yêu cầu bị đơn trả nợ nhưng không kết quả.
Tạm tính đến ngày 02/02/2020 thì theo hợp đồng đã giao kết, PGBANK yêu cầu ông Q, bà N phải trả cho ngân hàng tổng số tiền còn nợ như sau:
Tổng nợ 488.396.782 đồng, trong đó:
+ Nợ gốc là
: 329.581.000đồng; +
Lãi phải trả
: 130.124.918đồng.
+
Lãi nợ quá hạn
: 17.630.507đồng
- 3 -
Kể từ ngày 03/02/2020 ông Q, bà N tiếp tục chịu lãi đối với số tiền gốc còn nợ theo mức lãi suất trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
1.2. Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp:
Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ: Ngân hàng và ông Q, bà N đã ký: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1053.2015/HĐTC, quyển số 03 TP/CCSCC/HĐGD ngày 01/03/2016 tại Phòng công chứng Số 4, thành phố Hà Nội; Đơn yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 164, quyển số 01, ngày 02/03/2016 tại Văn phòng đăng ký đất đai Hà Nội, Chi nhánh huyện Chương Mỹ
Theo đó ông Q, bà N thế chấp với PGBANK tài sản : toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tại địa chỉ: Thửa đất số 122, tờ bản đồ số 09, Xóm Bụa, Thôn Trung Cao, Huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây (nay là thành phố Hà Nội) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 618842, số vào sổ cấp giấy chứng nhận QSDĐ: 01222 do UBND huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây cấp ngày 11/06/2008 cho hộ ông Nguyễn Khắc Q và bà Tô Thị N.
PGBANK khẳng định việc ký Hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên là đúng quy định pháp luật. Trong trường hợp ông Q, bà N không trả được nợ, PGBANK yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp.
2. Bị đơn bà Tô Thị N trình bày:
2.1 Về nghĩa vụ trả nợ:
Ông Q, bà N thừa nhận đã ký Hợp đồng tín dụng với PGBANK, số 101.0306/2016/HĐTD-CN/PGBHN ngày 01/03/2016 và Khế ước nhận nợ số 101.0306/2016/KƯNN-CN/PGBankHN ngày 03/03/2016 tại Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex – Chi nhánh Hà Nội. Số tiền vay: 350.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng chẵn);
Sau khi được giải ngân số tiền 350.000.000đ nợ gốc thì ông Q, bà N có trả ngân hàng được một phần nợ gốc 20.419.000đ nợ gốc. Nay ngân hàng khởi kiện ông Q, bà N thì tôi đề nghị phía ngân hàng xem xét cho gia đình được miễn giảm lãi. Còn nợ gốc thì gia đình xin trả dần.
2.2 Về việc ký kết hợp đồng thế chấp:
Để vay được tiền thì ông Q, bà N và các thành viên hộ gia đình đã ký: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1053.2015/HĐTC, quyển số 03 TP/CCSCC/HĐGD ngày 01/03/2016 tại Phòng công chứng Số 4, thành phố Hà Nội; Theo đó ông Q, bà N thế chấp với PGBANK tài sản: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tại địa chỉ: Thửa đất số 122, tờ bản đồ số 09, Xóm Bụa, Thôn Trung Cao, Huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây (nay là thành phố Hà Nội)
- 4 -
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 618842, số vào sổ cấp giấy chứng nhận QSDĐ: 01222 do UBND huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây cấp ngày 11/06/2008 cho hộ ông Nguyễn Khắc Q và bà Tô Thị N.
Bị đơn khẳng định việc ký Hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên là hoàn toàn tự nguyện và trực tiếp ký đúng quy định pháp luật. Khối tài sản thế chấp này thuộc quyền sử dụng, quyền sở hữu của hộ gia đình. Hiện trên khối tài sản thế chấp có ông Q, bà N, anh Quyền, anh Phục, chị Uyên sinh sống, ngoài ra không cho ai mượn, không cho ai thuê, ở nhờ, không cầm cố thế chấp cho bất kỳ tổ chức cá nhân nào khác. Khối tài sản đã thế chấp vẫn nguyên trạng như khi thế chấp, có tình trạng đúng như “Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ” do Tòa án và chính quyền địa phương tiến hành.
Đại diện Viện kiểm sát huyện Chương Mỹ thể hiện quan điểm:
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành tố tụng và thu thập chứng cứ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã được Tòa án yêu cầu tham gia đúng và đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ;
Tại phiên toà, Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Cụ thể: - Buộc bị đơn phải trả nguyên đơn toàn bộ số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng tạm tính đến ngày 02/02/2020 là Tổng nợ phải trả: 488.396.782 đồng. Cụ thể:
+ Nợ gốc: 329.581.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 130.124.918 đồng; Nợ lãi quá hạn: 17.630.507 đồng.
- Xác định Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất là có hiệu lực pháp luật và có hiệu lực thi hành.
Về án phí buộc bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Bị đơn là ông Nguyễn Khắc Q và bà Tô Thị N cư trú tại: Xóm Bụa, thôn Trung Cao, xã Trung Hòa, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội; Việc Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; thời điểm giao kết HĐTD, HĐTCTS, Bộ luật dân sự năm 2005 đang có hiệu lực pháp luật nên áp dụng Bộ luật dân sự năm 2005 để giải quyết tranh chấp.
Tại phiên tòa ngày 20/02/2020 vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có có lý do, căn cứ khoản 1 Điều 227 BLTTDS Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa, tại phiên tòa hôm nay người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
- 5 -
vắng mặt lần thứ hai không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 BLTTDS xét xử theo thủ tục chung.
. Về nội dung.
2.1. Xét yêu cầu khởi kiện đòi nợ gốc, tiền lãi trong hạn, quá hạn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
2.1.1 Xét tính hiệu lực Hợp đồng tín dụng số 101.0306/2016/HĐTDCN/PGBHN ngày 01/03/2016 và Khế ước nhận nợ số 101.0306/2016/KƯNNCN/PGBankHN ngày 03/03/2016 tại Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex – Chi nhánh Hà Nội, số tiền nhận nợ là: 350.000.000 đồng. Nội dung của Hợp đồng tuân thủ các quy định của pháp luật. Xác định Hợp đồng tín dụng trung, dài hạn số 101.0306/2016/HĐTD-CN/PGBHN ngày 01/03/2016 và Khế ước nhận nợ số 101.0306/2016/KƯNN-CN/PGBankHN ngày 03/03/2016 có hiệu lực pháp luật và các bên phải thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo thoả thuận của Hợp đồng tín dụng.
2.1.2. Xét yêu cầu buộc bị đơn phải trả toàn bộ gốc, lãi phát sinh của nguyên đơn:
Thực hiện Hợp đồng tín dụng, Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex – Chi nhánh Hà Nội đã giải ngân cho ông Q và bà N vay đủ số tiền 350.000.000 đồng, ông Q và bà N đã nhận đủ. Như vậy Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex đã thực hiện đúng thỏa thuận trong Hợp đồng.
Sau khi vay, Q và bà N mới trả được 20.419.000 đồng tiền nợ gốc của hợp đồng. Đến nay Q và bà N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo các kỳ trả nợ quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết và vẫn chưa thanh toán hết khoản vay trên. Như vậy Q và bà N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ và bị xác định là vi phạm hợp đồng. Do đó Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex – Chi nhánh Hà Nội khởi kiện đề nghị buộc Q và bà N phải trả toàn bộ số tiền nợ gốc, tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn theo Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ kèm theo là có căn cứ pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Theo đó, buộc Q và bà N phải có nghĩa vụ trả Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex – Chi nhánh Hà Nội toàn bộ số tiền còn nợ cả gốc và lãi phát sinh của khoản vay tạm tính đến ngày 02/02/2020 là Tổng nợ phải trả: 488.396.782 đồng. Cụ thể:
+ Nợ gốc: 329.581.000 đồng
+ Nợ lãi trong hạn: 130.124.918 đồng
+ Nợ lãi quá hạn: 17.630.507 đồng
Kể từ ngày 03/02/2020, ông Q và bà N phải tiếp tục chịu lãi đối với số tiền gốc còn nợ theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký.
- 6 -
2.2. Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản thế chấp theo
thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp tài sản:
Đối với yêu cầu đề nghị xử lý khối tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản.
Xét: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1053.2015/HĐTC, quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 01/03/2016 tại Phòng công chứng Số 4, thành phố Hà Nội; Đơn yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 164, quyển số 01, ngày 02/03/2016 tại Văn phòng đăng ký đất đai Hà Nội, Chi nhánh huyện Chương Mỹ. Theo đó ông Q, bà N thế chấp với PGBANK tài sản : Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tại địa chỉ: Thửa đất số 122, tờ bản đồ số 09, Xóm Bụa, Thôn Trung Cao, Huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây (nay là thành phố Hà Nội) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 618842, số vào sổ cấp giấy chứng nhận QSDĐ: 01222 do UBND huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây cấp ngày 11/06/2008 cho hộ ông Nguyễn Khắc Q và bà Tô Thị N. Khi tham gia ký Hợp đồng thế chấp tài sản thì không bị ai ép buộc và trực tiếp ký. Hội đồng xét xử xác định: Các bên khi tham gia ký Hợp đồng thế chấp tài sản đã thực hiện đúng về hình thức, trình tự, thủ tục và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Theo đó thoả thuận trong Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số số 1053.2015/HĐTC, quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 01/03/2016 tại Phòng công chứng Số 4, thành phố Hà Nội có hiệu lực pháp luật.
Do vậy: Yêu cầu của nguyên đơn đề nghị được xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ là có căn cứ và phù hợp với thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp tài sản được Hội đồng xét xử chấp nhận. Trường hợp ông Q và bà N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex – Chi nhánh Hà Nội có quyền đề nghị cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tại địa chỉ: Thửa đất số 122, tờ bản đồ số 09, Xóm Bụa, Thôn Trung Cao, Huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây (nay là thành phố Hà Nội) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 618842, số vào sổ cấp giấy chứng nhận QSDĐ: 01222 do UBND huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây cấp ngày 11/06/2008 cho hộ ông Nguyễn Khắc Q và bà Tô Thị N để thu hồi khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng.
Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 thì:
-
Ông Q và bà N phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
-
Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex – Chi nhánh Hà Nội
không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí
đã nộp. Vì các lẽ trên,
- 7 -
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 147, Điều 227, khoản 1 và khoản 2 Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ các Điều: 290,342, 343, 355, 471, 474, 476, 715, 721 Bộ luật dân sự năm 2005;
Căn cứ khoản 7 Điều 113, Điều 130 Luật Đất đai năm 2003;
Căn cứ các Điều: 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Căn cứ Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành luật đất đai năm 2003; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 về việc sửa đổi, bổ sung Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14.
1.Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex – Chi nhánh Hà Nội.
2.Về trách nhiệm trả nợ: Buộc Nguyễn Khắc Q và bà Tô Thị N phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex – Chi nhánh Hà Nội toàn bộ số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số 101.0306/2016/HĐTD-CN/PGBHN ngày 01/03/2016 và Khế ước nhận nợ số 101.0306/2016/KƯNNCN/PGBankHN ngày 03/03/2016 tại Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex – Chi nhánh Hà Nội. Tạm tính đến ngày 02/02/2020 là 488.396.782 đồng (Bốn trăm tám mươi tám triệu ba trăm chín mươi sáu nghìn bẩy trăm tám mươi hai đồng). Trong đó:
+ Nợ gốc: 329.581.000 đồng
+ Nợ lãi trong hạn: 130.124.918 đồng
+ Nợ lãi quá hạn: 17.630.507 đồng
Kể từ ngày 03/02/2020 ông Q và bà N phải tiếp tục chịu lãi đối với số tiền gốc còn nợ theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 101.0306/2016/HĐTD-CN/PGBHN ngày 01/03/2016.
Về xử lý tài sản thế chấp:
3.1. Trường hợp Nguyễn Khắc Q và bà Tô Thị N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc không thanh toán xong khoản nợ thì Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex – Chi nhánh Hà Nội có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại khối tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tại địa chỉ: Thửa đất số 122, tờ bản đồ số 09,
- 8 -
diện tích 200m2 đất ở và 58m2 đất vườn tại Xóm Bụa, Thôn Trung Cao, Huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây (nay là thành phố Hà Nội) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 618842, số vào sổ cấp giấy chứng nhận QSDĐ: 01222 do UBND huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây cấp ngày 11/06/2008 cho hộ ông Nguyễn Khắc Q và bà Tô Thị N.
3.2. Trường hợp sau khi phát mại tài sản bảo đảm không đủ nghĩa vụ trả nợ thì ông Q và bà N vẫn phải có nghĩa vụ thanh toán số nợ gốc, lãi còn lại cho ngân hàng đến khi thanh toán xong.
4. Về án phí:
4.1. Buộc ông Q và bà N phải chịu 23.535.871 đồng án phí dân sự sơ thẩm. 4.2. Trả lại Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex – Chi nhánh Hà Nội 17.347.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Chương Mỹ theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: AA/2015/0004461 ngày 18 tháng 12 năm 2019.
Án xử công khai sơ thẩm. Báo cho nguyên đơn; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. N¬i nhËn
:
| - TAND TP Hµ Néi; ThÈm ph¸n-Chñ to¹ phiªn toµ - VKSND huyện Chương Mỹ; - THA huyện Chương Mỹ; - C¸c ®ư¬ng sù; - Lu HS, VT. | tm. Héi ®ång xÐt xö Tưởng Ngọc Tuấn |