- Tranh chấp gì? "Đoàn Văn Thành - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TßA ¸N NH©N D©N Thµnh phè ® tØnh l©m ®ång | CỘNG HÒA Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ___________________ B¶n ¸n sè: 09/2020/HSST Ngµy : 20/02/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông HOÀNG TRÌNH
+ Các Hội thẩm nhân dân:
1/. Ông NGUYỄN MINH SƠN
2/. Ông PHẠM QUANG VINH
- Thư ký phiên tòa: Ông NGUYỄN VĂN ĐỒNG - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đ, Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông PHAN MINH TRÍ - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 20 tháng 02 năm 2020. Tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đ, Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 11/2020/HSST ngày 21 tháng 01 năm 2020; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2020/QĐ-HSST ngày 07 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: ĐOÀN VĂN T. Sinh ngày 02 tháng 7 năm 1990. Nơi sinh: Quảng Ngãi. Nơi ĐKNKTT: 22/29 - L, Phường 2, thành phố B, Lâm Đồng. Chỗ ở: 12/80 - N, Phường 9, thành phố Đ, Lâm Đồng. Nghề nghiệp: Lái xe. Trình độ học vấn: Lớp 12/12. Con ông: Đoàn Văn P (chết); Con bà: Lê Thị Xuân L, sinh năm 1967. Hiện ở tại: 22/29 - L, Phường 2, thành phố B, Lâm Đồng, Lâm Đồng. Vợ: Hoàng Thị Diệu T, sinh năm 1990, có 01 con, sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt ngày 22/10/2019. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, Lâm Đồng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đoàn Văn T là đối tượng sử dụng chất ma túy (Heroin) từ năm 2017. Để có ma túy sử dụng, vào ngày 18/10/2019, Thành đi xe khách Thành Bưởi từ thành phố Đ, Lâm Đồng đến Thành phố Hồ Chí Minh để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến đường Bùi Viện, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, Thành đưa 2.000.000 đồng cho một người chạy xe thồ (không rõ nhân thân, lai lịch), nhờ mua ma túy thì người này đồng ý. Khoảng 10 phút sau, người chạy xe thồ quay lại, đưa cho Thành 03 gói giấy chứa ma túy thì Thành đưa thêm cho người này 100.000 đồng tiền công. Sau khi mua ma túy, Thành cất giấu số ma túy đã mua vào trong ba lô rồi quay lại thành phố Đ, Lâm Đồng, cất giấu trong phòng trọ tại số 12/8 - N, Phường 9, thành phố Đ, Lâm Đồng. Tại phòng trọ, T lấy một ít ma túy trong 01 gói ra để sử dụng, số ma túy còn lại trong gói này, T cất vào túi quần Kaki màu xanh - trắng đang mặc; 02 gói khác T bỏ vào một hộp giấy màu đen, có chữ DR.MARTENS, kích thước 30x20x15 cm, cất trên gác xép cạnh giường ngủ để sử dụng dần. Đến khoảng 08 giờ 30 ngày 22/10/2019, khi T đang ở tại phòng trọ số 5, nhà số 12/8
- N, Phường 9, thành phố Đ, Lâm Đồng thì bị Công an tỉnh Lâm Đồng kiểm tra, phát hiện và lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ trong túi quần Thành đang mặc 01 gói ma túy, sau đó T khai nhận còn 02 gói khác đang cất giấu, chưa sử dụng, Cơ quan Công an đã tiến hành thu giữ 02 gói ma túy này.
Tại Kết luận giám định số 1625/GĐ-PC09 ngày 24/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: Mẫu chất dạng cục bột màu trắng đựng trong 03 gói giấy được niêm phong gởi giám định có khối lượng 0,5453 gam là chất Heroin. Heroin là chất ma túy, nằm trong danh mục I, STT 09, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
Tại Cáo trạng số 16/CT-VKS ngày 20/01/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, Lâm Đồng truy tố Đoàn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đoàn Văn T không thắc mắc hay khiếu nại gì về Kết luận của Cơ quan giám định nói trên và khai nhận vào ngày 18/10/2019 bị cáo đã có hành vi mua 03 gói Heroin của một đối tượng (không rõ nhân thân, lai lịch) tại Thành phố Hồ Chí Minh, sau khi sử dụng một ít, số còn lại bị cáo tiếp tục tàng trữ tại phòng trọ để sử dụng và đến ngày 22/10/2019, khi bị cáo đang tàng trữ số ma túy còn lại sau khi đã sử dụng một phần thì bị Công an tỉnh Lâm Đồng kiểm tra, phát hiện và bắt giữ với các hành vi cụ thể như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu là đúng, bị cáo không thắc mắc hay khiếu nại gì về nội dung bản Cáo trạng.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, Lâm Đồng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận như sau: Tại phiên tòa bị cáo Đoàn Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai trong quá trình điều tra, không có nội dung gì thay đổi, hành vi của bị cáo tàng trữ 0,5453 gam chất Heroin, là chất ma túy với mục đích để sử dụng, có đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Đoàn Văn T từ 24 đến 30 tháng tù. Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo qui định của pháp luật.
Bị cáo không có tranh luận gì với Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố và chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng:
Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Lâm Đồng và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, Lâm Đồng và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại nào về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được tiến hành hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo Đoàn Văn T:
Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ nhận thức, bị cáo sử dụng ma túy từ năm 2017 nên biết rất rõ việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép các chất ma túy, trong đó có chất Heroin, một loại ma túy, là hành vi trái pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện việc tàng trữ 0,5453 gam Heroin với mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật và gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Có đủ căn cứ kết luận bị cáo Đoàn Văn T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm đối với bị cáo được qui định tại điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 như Cáo trạng truy tố và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết định khung hình phạt:
Hành vi của bị cáo tàng trữ ma túy với khối lượng 0,5453 gam Heroin. Không thuộc tình tiết định khung tăng nặng nào được qui định tại điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 nên bị cáo chỉ bị xét xử theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt nào theo qui định tại điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Sau khi bị bắt, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt qui định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về áp dụng hình phạt bổ sung:
Xét hiện không xác định được bị cáo có thu nhập gì từ việc Tàng trữ trái phép chất ma túy nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Các loại vật chứng đã thu giữ trong quá trình điều tra vụ án gồm có: Hai phong bì đã được niêm phong, trong đựng vật chứng còn lại sau giám định và bao gói vật chứng trước khi giám định và 01 hộp giấy màu đen, kích thước 30x20x15 cm, xét không có giá trị sử dụng nên tịch thu để tiêu hủy. Vật chứng còn lại: 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi, vỏ màu đen, bên trong có gắn 02 sim số 0901678523 và 0937787345, xét là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí:
Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo qui định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[2]. Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Đoàn Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/10/2019.
[3]. Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
+ Tịch thu để tiêu hủy: 02 phong bì đã niêm phong đựng vật chứng còn lại sau giám định và bao gói vật chứng trước khi giám định và 01 hộp giấy màu đen đã được niêm phong, có kích thước 30x20x15 cm, có in chữ DR.MARTENS.
+ Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi, vỏ màu đen, bên trong có gắn 02 sim, gồm số 0901678523 và số 0937787345 (điện thoại đã được niêm phong).
(Các vật chứng có đặc điểm cụ thể như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/01/2020 giữa Công an thành phố Đ và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ).
[4]. Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về lệ phí, án phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[5]. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - Tòa án ND tỉnh Lâm Đồng; - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - VKSND thành phố Đ; - Công an thành phố Đ; - Thi hành án thành phố Đ; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Bộ phận theo dõi THA phạt tù; - Lưu. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đã ký Hoàng Trình |