vanban.org

Bản án 09

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm b, m khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt: Trần Thanh H 07(Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 21/9/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trần Thanh H - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự
Tßa ¸n nh©n d©n
thµnh phè CÈm ph¶
tØnh qu¶ng ninh

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B¶n ¸n sè: 09/2018/HSST
Ngµy: 26/01/ 2018

nh©n danh

n íc céng hßa x· héi chñ nghÜa viÖt nam

tßa ¸n nh©n d©n thµnh phè cÈm ph¶

Víi thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö gåm cã:

ThÈm ph¸n - Chñ täa phiªn tßa: Bµ NguyÔn ThÞ Kim Thoa

C¸c héi thÈm nh©n d©n:

¤ng Nguyễn Minh Tuấn vµ bµ Lê Thị Thanh Thủy

Th ký Tßa ¸n ghi biªn b¶n phiªn tßa:

¤ng Lª §øc Long- c¸n bé Tßa ¸n nh©n d©n thµnh phè CÈm Ph¶.

§¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n thµnh phè CÈm Ph¶:

Ông Bùi Tiến Dũng- chøc danh: KiÓm s¸t viªn.

Trong ngµy 26 th¸ng 01 n¨m 2018 t¹i héi tr êng xÐt xö cña Tßa ¸n nh©n d©n thµnh phè CÈm Ph¶, tØnh Qu¶ng Ninh xÐt xö s¬ thÈm vô ¸n h×nh sù thô lý sè 207/2017/HSST ngµy 04 th¸ng 12 n¨m 2017 ®èi víi bÞ c¸o:

Họ và tên: Trần Thanh H;

Tên gọi khác: Không.

Sinh ngày: 23/5/1981, tại Cẩm Phả, Quảng Ninh.

Nơi ĐKNKTT, chỗ ở: Tổ A, khu B, phường C, thành phố D, tỉnh Quảng Ninh;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 09/12;

Quốc tịch: Việt Nam ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

Họ tên bố: Trần Thanh N - Sinh năm: 1958; Họ tên mẹ: Hoàng Thị T - Sinh năm: 1959;

Chồng: Phan Trọng H - Sinh năm 1980 (Đã ly hôn);

Có một con sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Chưa;

Bị bắt ngày 21/9/2017, hiện tạm giam có mặt tại phiên tòa.

Nội Dung vụ án

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào hồi 02 giờ 40 phút ngày 21/9/2017 tại tổ A, khu B, phường C, thành phố D Trần Thanh H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để bán. Thu giữ của H 01 túi nilon bên trong chứa 10 viên nén hình trụ tròn màu xanh, một mặt mỗi viên in chìm hình chữ “LV” lồng vào nhau, mặt còn lại in chìm hình dấu “-” , 01 điện thoại di động Nokia 105. Khám xét nơi ở của H thu giữ 01 túi nilon bên trong chứa 100 viên nén hình trụ tròn màu xanh một mặt mỗi viên in chìm hình chữ “LV” lồng vào nhau, mặt còn lại im chìm hình dấu “–”, 01 điện thoại di động IPHONE vỏ màu đỏ trắng, 01 điện thoại di động IPHONE vỏ màu trắng đã bị hỏng, số tiền 5.444.000 đồng, 01 chứng minh nhân dân mang tên Trần Thanh H, 20 vỏ túi nilon, 01 cân tiểu ly điện tử.

Tại bản kết luận giám định số 598/GĐMT ngày 25/9/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: 10 viên nén hình trụ tròn màu xanh trong 01 túi nilon thu trên người H (M1) và 100 viên nén hình trụ tròn màu xanh trong 01 túi nilon thu tại nhà H (M2) là chất ma túy, loại MDMA, trọng lượng lần lượt là: 3,27g (ba phẩy hai bẩy gam) và 32,8g (ba hai phẩy tám gam). Hoàn lại M1: 1,96g (một phẩy chín sáu gam); M2: 29,49g (hai chín phẩy bốn chín gam).

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Trần Thanh H khai nhận: Bản thân có sử dụng ma túy „lắc” từ năm 2017. Vào tháng 8/2017 sang khu vực đường tàu thành phố Hải Phòng mua của người tên H2 150 viên ma túy lắc với giá 48.000.000đồng, mang về nhà sử dụng và bán. Tôi đã sử dụng hết 10 viên và đã bán hết 30 viên cho 3- 4 người khách hỏi mua, mỗi lần bán từ 05 đến 10 viên với giá 400.000đồng đến 450.000đồng một viên. Trong số người mua ma túy tôi có bán cho ma túy cho H1 vào khoảng 01 giờ ngày đầu tháng 9/2017 khi tôi nhận được điện thoại của H1 hỏi mua 05 viên ma túy lắc giá 450.000đ/viên, tôi đồng ý bảo H1 đến đường đầu ngõ. Tôi đi ra và đã bán cho H1 05 viên ma túy lắc với giá 2.250.000đồng. Đây là lần đầu Tôi bán ma túy cho H1.

Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 21/9/2017 tôi từ nhà cầm theo 01 túi nilon bên trong có 10 viên ma túy lắc, khi đến khu vực đầu ngõ bị Công an kiểm tra thu giữ, sau đó về nhà khám xét thu giữ 100 viên ma túy lắc của tôi, với mục đích sử dụng và bán. Số tiền mua ma túy là do tôi đi làm thuê mà có, tiền bán ma túy tôi đã sử dụng ăn uống hết. Chiếc điện thoại Nokia 105 dùng để liên lạc việc mua bán ma túy, điện thoại Iphone không liên quan đến ma túy. Số tiền 5.444.000đồng là tiền do tôi đi làm mà có. Tôi nhận thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật.

Nguyễn Thị H1 tại cơ quan điều tra khai nhận: Thời gian tháng 7/2017 đã nhiều lần mua ma túy của H (còn có tên gọi là Th), mỗi lần mua từ 5 đến 10 viên ma túy lắc với giá 450.000đồng /viên. Lần gần nhất vào khoảng 01 giờ một ngày đầu tháng 9/2017, H1 điện thoại cho Hoa hỏi mua 05 viên thuốc ma túy lắc, H đồng ý bảo H1 đến đầu ngõ, tại đây H1 gặp và mua được của Hoa 05 viên ma túy lắc với giá 2.250.000đồng mang về nhà sử dụng hết. tôi quen biết H qua bạn bè xã hội.

Người làm chứng anh Nguyễn Văn T có lời khai phù hợp được chứng kiến Công an kiểm tra, thu giữ của người phụ nữ khai tên là Trần Thanh H giao nộp 01 túi nilon trong có 10 viên nén hình trụ màu xanh, H khai nhận đó là ma túy lắc cầm theo với mục đích sử dụng và bán, công an đã niêm phong số ma túy. Thu giữ của H 01 điện thoại di động Nokia. Tôi không quen biết và không có mâu thuẫn gì với H.

Bản cáo trạng số 214 ngày 30/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo Trần Thanh H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy“ được quy định tại điểm b, m khoản 2 điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát cũng đưa ra các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị xử bị cáo Trần Thanh H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b, m, khoản 2 điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ Luật hình sự năm 2015 và đề nghị xử: Trần Thanh H mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng của vụ án.

Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo ân hận với việc làm của mình, đề nghị hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau;

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm Phả, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trần Thanh H không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Thanh H tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với nội dung bản cáo trạng và phù hợp với các tài liệu được cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án; Biên bán khám xét; biên bản nhận dạng; biên bản xác định địa điểm; biên bản mở kiểm tra điện thoại; Bản kết luận giám định; Với các chứng cứ nêu trên đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01 giờ một ngày đầu tháng 9/2017, tại tổ A, khu B, phường C, thành phố D, Trần Thanh H có hành vi bán trái phép cho Nguyễn Thị H1 05 viên ma túy thuốc lắc với giá 2.250.000 đồng, để H1 sử dụng. Tiếp đến, khoảng 02 giờ 40 phút ngày 21/9/2017, tại tổ A, khu B, phường C, thành phố D, Trần Thanh H có hành vi tàng trữ trái phép 36,07g (ba sáu phẩy không bẩy gam) chất ma túy, loại MDMA, mục đích để sử dụng và bán, thì bị Công an kiểm tra bắt giữ. Ngoài ra, trong thời gian từ giữa tháng 8/2017 đến khi bị bắt, H còn nhiều lần bán trái phép chất ma túy cho những người không quen biết, mỗi lần bán từ 05 - 10 viên thuốc lắc với giá từ 400.000 đồng đến 450.000 đồng/01 viên. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy‟‟. Bộ luật hình sự năm 2015 tội „„Mua bán trái phép chất ma túy‟‟ được quy định tại điều 251 có mức hình phạt không nhẹ hơn so với điều 194 BLHS năm 1999. Vậy nên tội phạm tội và hình phạt của bị cáo Trần Thanh H được quy định tại điểm b, m khoản 2 điểu 194 Bộ luật hình sự năm 1999.

Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định:

“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

b) Phạm tội nhiều lần

m) Các chất ma túy khác ở thể rắn có trọng lượng từ hai mươi gam đến dưới một trăm gam,”

Bị cáo Trần Thanh H là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.Vậy nên lời luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa, phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức được tác hại của ma túy và tính trái pháp luật của việc mua bán trái phép chất ma túy, vì mục đích kiếm lời mà bị cáo đã tỏ ra coi thường bất chấp pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền kiểm soát các chất ma túy của nhà nước ta, gây mất trật tự trị an trong xã hội. Xong với ý thức chấp hành pháp luật kém, bị cáo có sử dụng loại ma túy “lắc”, việc bị cáo đã tàng trữ 36,07gam chất ma túy loại MDMA mục đích để sử dụng và bán, đã bán ma túy cho Nguyễn Thị H và nhiều lần bán ma túy cho những người không quen biết để thu lời bất chính. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng cần được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xong dù có xem xét đến đâu thì việc bắt bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung(phạt tiền) đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo 01 điện thoại di động Nokia 105 vỏ màu cam là điện thoại bị cáo dùng vào việc liên lạc mua bán ma túy nay vụ án kết thúc nên tịch thu sung quỹ nhà nước. 01 điện thoại Iphone vỏ màu đỏ trắng, 01 điện thoại Iphone vỏ màu trắng đã bị hỏng; 01 chứng minh nhân dân mang tên Trần Thanh H; Số tiền 5.444.000 (năm triệu bốn trăm bốn mươi bốn nghìn đồng) là tài sản và tiền riêng của bị cáo nên tuyên trả cho bị cáo; 20 vỏ túi nilon, 01 cân tiểu ly điện tử; số ma túy gửi giám định hoàn lại 31,45g chất ma túy MDMA đựng trong 01 phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định số 598/GĐMT là vật nhà nước cấm, và vật không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Truy thu số tiền 2.250.000đồng là tiền thu lời bất chính của bị cáo để sung quỹ nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với Nguyễn Thị H1 là người mua ma túy của H, hiện đã bị khởi tố điều tra xử lý trong vụ án khác, nên không đề cập xử lý.

Đối tượng H2 là người bán ma túy cho H, không có địa chỉ cụ thể nên không có cơ sở làm rõ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm b, m khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Trần Thanh H 07(Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 21/9/2017.

Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Buộc Trần Thanh H phải nộp lại số tiền 2.250.000đ (Hai triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) để sung quỹ nhà nước.

Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu cam, Model: 105, số IMEI: 357117/06/670905/8, kèm 01sim, 01 pin. Điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; Tuyên trả bị cáo số tiền 5.444.000đ (Năm triệu bốn trăm bốn mươi bốn nghìn đồng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu đỏ trắng, Model: A1661 FCC ID: BCG – E3087A IC: 579C – E3087A, kèm 01 sim. Điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, vỏ màu trắng, Model: A1533 FCC ID: BCG – E2642A IC: 579C – E 2642B IMEI: 352009065177193, không kèm sim. Điện thoại đã cũ, đã qua sử dụng, đã bị hỏng; 01 Giấy chứng minh nhân dân số 100854352 mang tên Trần Thanh Hoa do Công an cấp ngày 05/7/2011.

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì còn nguyên dấu niêm phong số 598/GĐMT của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, bên trong chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định; 20(hai mươi) vỏ túi nilon màu trắng loại nhỏ, đã cũ, đã qua sử dụng; 01 cân tiểu ly điện tử màu đen, đã cũ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong (theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 50/BB-THA ngày 07/12/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh).

Buộc Trần Thanh H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo, báo cho biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ