- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Điền - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn V Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2020/HS-ST Ngày: 26/02/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Vĩ Bửu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lâm Huỳnh Đệ;
2. Bà Quách Thị Bích Ngà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Hoài – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 tham gia phiên tòa:
Ông Trần Vi Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2020, tại Phòng xử án A, trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai Vụ án hình sự thụ lý số: 11/2020/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2020/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn V Đ, sinh ngày 11/10/1991; nơi sinh: Tỉnh Sóc Trăng; hộ khẩu thường trú: Ấp Dương Kiển, xã Hòa Tú 2, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở: Không có nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Thêm và bà Lâm Thị Ngọc; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/10/2019 tại Nhà tạm giữ Công an Quận 11 (bị cáo có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 16 giờ 00 phút ngày 17/10/2019, tại tiệm game bắn cá số 173 đường Tôn Thất Hiệp, Phường 12, Quận 11, Đội Cảnh sát hình sự Công an Quận 11 kiểm tra hành chính, phát hiện bị cáo Nguyễn V Đ đang cất giữ trong túi quần phía trước bên phải 01 gói nylon chứa ma túy dạng tinh thể không màu nên tiến hành thu giữ vật chứng và lập “Biên bản bắt người phạm tội quả tang” đối với Nguyễn V Đ.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 11 đã tiến hành trưng cầu giám định 01 gói nylon chứa tinh thể không màu thu giữ của bị cáoĐ. Tại Bản kết luận giám định số 1944/KLGĐ-H ngày 24/10/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định: Tinh thể không màu trong 01 gói nylon được niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn V Đ và hình dấu Công an Phường 12, Quận 11 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1308g, loại Methamphetamine.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáoĐ khai nhận: Vào ngày 17/10/2019, bị cáo đã mua số ma túy trên từ một người phụ nữ không rõ lai lịch tại trước tiệm game bắn cá số 173 Tôn Thất Hiệp, Phường 12, Quận 11 với giá 200.000 đồng và cất giữ để sử dụng.
Vật chứng vụ án:
- 01 gói nylon được niêm phong ghi vụ số 1944, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và Điều tra viên, chứa ma túy còn lại sau giám định.
- 01 điện thoại di động hiệu Itel, màu bạc đồng, đã qua sử dụng.
- Tiền Việt Nam: 103.000 đồng (Một trăm lẻ ba ngàn đồng).
Tại bản Cáo trạng số 11/CT-VKSQ11 ngày 20 tháng 01 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 đã truy tố bị cáo Nguyễn V Đ tội danh “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn V Đ thừa nhận hành vi phạm tội của mình, có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo như sau:
- Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn V Đ từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung.
Đồng thời, Đại diện Viện kiểm sát nhân nhân Quận 11 đề nghị xử lý vật chứng như sau:
- Tịch thu và tiêu hủy 01 gói nylon được niêm phong ghi vụ số 1944, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và Điều tra viên, chứa ma túy còn lại sau giám định.
-Trả lại cho bị cáo Đ 01 điện thoại di động hiệu Itel, màu bạc đồng, đã qua sử dụng, là tài sản cá nhân của bị cáo.
- Trả lại cho bị cáo Đ số tiền Việt Nam 103.000 đồng (Một trăm lẻ ba ngàn đồng), là tài sản cá nhân của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về chứng cứ xác định có tội:
Vào ngày 17/10/2019, tại tiệm game bắn cá số 173 đường Tôn Thất Hiệp, Phường 12, Quận 11, bị cáo Nguyễn V Đ đã có hành vi cất giữ trái phép 0,1308 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng.
Tại phiên tòa, bị cáo Đ Căn đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, có lời khai phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Nguyễn V Đ đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng các chất ma túy, tiền chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh xã hội và sức khỏe con người, do đó cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáoĐ có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có nơi ở nhất định nên không cần thiết áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với đối tượng bán ma tuý cho bị cáo Đ, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục làm rõ, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu và tiêu hủy 01 gói nylon được niêm phong ghi vụ số 1944, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và Điều tra viên, chứa ma túy còn lại sau giám định.
-Trả lại cho bị cáo Đ 01 điện thoại di động hiệu Itel, màu bạc đồng, đã qua sử dụng, đây là tài sản của bị cáo dùng để liên lạc cá nhân, không liên quan đến việc phạm tội.
- Trả lại cho bị cáo Đ số tiền Việt Nam 103.000 đồng (Một trăm lẻ ba ngàn đồng), đây là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội.
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 11, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố bị cáo Nguyễn V Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn V Đ 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 17/10/2019.
Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Tịch thu và tiêu hủy 01 gói nylon được niêm phong ghi vụ số 1944, bên ngoài có chữ ký của Giám định viên và Điều tra viên, chứa ma túy còn lại sau giám định.
- Trả lại cho bị cáo Đ 01 điện thoại di động hiệu Itel, màu bạc đồng, đã qua sử dụng.
- Trả lại cho bị cáo Đ số tiền Việt Nam 103.000 đồng (Một trăm lẻ ba ngàn đồng).
(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 115/MT ngày 22/10/2019 và Lệnh nhập kho vật chứng số 137/MT ngày 10/12/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 11).
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn V Đ chịu án phí là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND - VKSND TPHCM; - Sở Tư pháp TPHCM; - CA TPHCM; - VKSND Q.11; - Công an Q.11; - Chi cục THADS Q.11; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vương Vĩ Bửu |