- Tranh chấp gì? án hình sự — "249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H N TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2020/HS-ST Ngày: 22/4/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H N, TỈNH NGHỆ AN
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Đường;
Ông Trần Văn Hải.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện H N, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H N, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Châu - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2020 tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện H N, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 08/2020/TLST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2020. Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:
Trần Văn C tên gọi khác: Trần C C; sinh ngày: 20 tháng 7 năm 1983, tại: huyện H N, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Khối 5 thị trấn H N, huyện H N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Công T; con bà: Ngô Thị Hợi; vợ: Phạm Thị H; con: Có 02 con (con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2010); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 25/5/2001 bị Tòa án nhân dân huyện H N, tỉnh Nghệ An xử phạt 24 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 10/HSST); bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/12/2019 đến ngày 29/12/2019 bị tạm giam cho đến nay.
Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 22/12/2019, Trần Văn C đi xe tắc xi từ nhà ở của mình đến khu vực Bến xe Vinh (bến xe cũ) để tìm mua ma túy về sử dụng. Đến nơi Côn gặp một người đàn ông không quen biết. Người này hỏi C “Đi đâu đó chú”. Côn trả lời “Em đi kiếm tí hàng, anh có biết ai bán không”. Hiểu ý Côn muốn mua ma túy nên người đàn ông này nói tiếp “Chú cần lấy bao nhiêu”. Côn nói “Em cần mua một triệu hai”. Người đàn ông này nói C đưa tiền. C lấy 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng) đưa cho người đàn ông này. Người này cầm tiền rồi đi đâu thì C không biết, còn C ngồi đợi tại đó. Khoảng 05 phút sau, người đàn ông quay lại đưa cho C 08 gói potylen màu trong suốt, bên trong mỗi gói đều có chứa chất tinh thể dạng rắn là ma túy đá. Sau khi mua được ma túy, Côn bắt xe tắc xi về nhà của mình rồi lấy ra 01 gói và sử dụng hết. Số ma túy còn lại Côn bỏ vào vỏ bao diêm cất vào trong túi quần bên trái đang mặc. Đến khoảng 15 giờ ngày 23/12/2019, khi C đang ngồi ở quán Côn H thuộc Khối 3, thị trấn H N, Huyện H N thì bị Công an Huyện H N kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Tổ công tác đã thu giữ 01 hộp diêm thống nhất bên trong hộp diêm có 07 gói potylen màu trong suốt bên trong mỗi gói potylencó chứa chất tinh thể dạng đá.
Tại Bản kết luận giám định số 65/KL- PC09 (Đ2-MT) ngày 26/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Số chất tinh thể dạng rắn màu trong suốt thu giữ của Trần Văn C gửi tới giám định đều là ma túy (Methamphetamine), có tổng khối lượng là 1,90 gam.
Cáo trạng số 12/CT-VKS-HS ngày 02/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H N, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Trần Văn Cvề tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn C đã khai nhận hành vi mà bị cáo thực hiện giống như nội dung bản cáo trạng và nội dung vụ án như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Văn Cphạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Trần Văn C từ 15 đến 18 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự tịch thu tiêu hủy: Phong bì niêm phong trong đó có 07 tinh thể dạng rắn được giám định là ma túy (Methamphetamine).
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện H N: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
. Về chứng cứ xác định tội danh:
Hội đồng xét xử xét thấy: Lời khai tại phiên tòa và lời khai trong quá trình điều tra của bị cáo là thống nhất với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 15 giờ ngày 23/12/2019 và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được công bố và thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ cơ sở để kết luận: Vào lúc 15 giờ ngày 23/12/2019 tại địa phận khối 3 thị trấn H N, huyện H N, cơ quan CSĐT Công an huyện H N bắt quả tang bị cáo Trần Văn C có hành vi tàng trữ trái phép 07 gói chất tinh thể dạng rắn.
Căn cứ vào kết luận giám định số 65/KL-PC09 (Đ2-MT) ngày 26/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An thì: 07 mẫu chất tinh thể dạng rắn thu giữ của Trần Văn Cgửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine), có tổng khối lượng là 1,9 gam.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Nên hành vi tàng trữ 1,90
gam ma túy (Methamphetamine) để sử dụng của bị cáo đã có đầy đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện H N, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Vụ án trực tiếp xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội và chế độ quản lý đặc biệt đối với việc tàng trữ chất ma túy. Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, năm 2001 đã bị Tòa án nhân dân huyện H N xử phạt 24 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân lại tiếp tục lao vào con đường phạm tội. Hành vi tàng trữ 1,90 gam ma túy (Methamphetamine) nhằm mục đích sử dụng của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần phải xử lý nghiêm để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét thấy, mặc dù bị cáo có một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tặng nặng. Tuy nhiên, bị cáo đã có hành vi tàng trữ ma túy có tổng khối lượng là 1,9 gam. Bản thân bị cáo lại có nhân thân xấu nên cần lên một hình phạt nghiêm khắc mới đủ điều kiện giáo dục và cải tạo bị cáo.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản. Nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (là hình phạt tiền) đối với bị cáo.
. Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ: 07 gói chất tinh thể dạng rắn được bỏ vào trong một phong bì công văn Công an huyện H N được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật.
Xét thấy: Phong bì niêm phong dán kín bên trong là chất tinh thể dạng rắn, được giám định là ma túy (Methamphetamine). Đây là vật chứng bị Nhà nước cấm tàng trữ trái phép nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
. Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo. Cơ quan CSĐT Công an huyện H N đã tiến hành điều tra nhưng không xác định được họ tên, địa chỉ của người này. Nên không có căn cứ để xử lý.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy"
2. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn C02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 23/12/2019.
3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự: Tịch thu tiêu hủy một phong bì thư công văn Công an huyện H N được niêm phong theo đúng quy định, mặt trước phong bì có ghi hàng chữ viết “Gói niêm phong vật chứng thu giữ của Trần Văn C(1983), trú tại khối 5 thị trấn H N, huyện H N, Nghệ An vào ngày 23/12/2019, tại khối 3 thị trấn H N, huyện H N, Nghệ An. Sau khi mở niêm phong cân xác định khối lượng lấy mẫu gửi đi giám định và niêm phong lại”. Trên các mép dán của phong bì có chữ ký của những người có tên trên và đóng dấu của cơ quan CSĐT Công an huyện H N.
(Đặc điểm chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng lập hồi 16 giờ ngày 05/3/2020 giữa Công an huyện H N và Chi cục thi hành án dân sự huyện H N).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo Trần Văn Cphải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện H N; - Công an huyện H N; - Chi cục THADS huyện H N; - Bị cáo; - TAND tỉnh NA; - Lưu HSVA. - Lưu VP HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Lê Đường Trần Văn Hải | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Thanh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Thanh |