vanban.org

Bản án 09/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 8 - Gia Lai, tỉnh Gia Lai Tuyên án 10/02/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Các điểm a, b khoản 2 Điều 260; các Điều 38, 50, 54; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025;

Tuyên bố bị cáo Puih K phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt: Bị cáo Puih K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HÌNH SỰ - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Các điểm a, b khoản 2 Điều 260; các Điều 38, 50, 54; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – G

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2026/HS-ST
Ngày 10/02/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - G

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đặng Anh Việt.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đình Hưng và ông Phạm Văn Miền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phùng Lê Lâm là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân khu vực 8 - G.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – G tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 – G xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2025/TLST-HS, ngày 09 tháng 12 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2026/QĐXXST-HS, ngày 27 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:

Puih K, tên gọi khác: Không, sinh ngày 12 tháng 12 năm 2004, tại tỉnh G.

Nơi cư trú: Làng Ngai Ngó, xã Ia Hrung, huyện Ia Grai, tỉnh G (nay là Làng Ngai Ngó, xã Ia Hrung, tỉnh G); nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Gia Rai; giới tính: nam; tôn giáo: Tin lành; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Puih K, sinh năm 1980 và bà Puih Tích, sinh năm 1986. Bị cáo có vợ tên là Siu Thuyết, sinh năm 2004, bị cáo chưa có con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 26/6/2025 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Rah Lan H, sinh năm 1967 (đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại gồm: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1971 (là vợ bị hại), chị Rah Lan L, sinh năm 1993, chị Rah Lan L1, sinh năm 1995, cháu Rah Lan Nhật Linh, sinh năm 2012 và cháu Rah Lan Nhật Huy, sinh năm 2014 (đều là con của bị hại); cùng trú tại: Tổ dân phố 2, xã Chư Prông, tỉnh G.

1

(chị Rah Lan L và chị Rah Lan L1 có văn bản thống nhất cử bà Nguyễn Thị S là người đại diện hợp pháp tham gia tố tụng). Bà Nguyễn Thị S. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Puih K, sinh năm 1980 và bà Puih Tích, sinh năm 1986; cùng trú tại: Làng Ngai Ngó, xã Ia Hrung, huyện Ia Grai, tỉnh G (nay là Làng Ngai Ngó, xã Ia Hrung, tỉnh G), là cha mẹ của bị cáo Puih K. Đều có mặt tại phiên tòa.

- Người phiên dịch tiếng Gia Rai: Bà Nay Bun Ry; địa chỉ: Làng H’Rang, xã Đức Cơ, tỉnh G. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Puih K không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định. Vào khoảng 8 giờ ngày 26/4/2025, K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại xe Exciter, BKS 81AU - 074.10 có dung tích xi lanh 149cm3 đi từ làng Bạc 1, xã Ia Phìn, huyện Chư Prông, tỉnh G (nay là làng Bạc 1, xã Chư Prông, tỉnh G) đến làng Ngai Ngó, xã Ia Hrung, huyện Ia Grai, tỉnh G (nay là làng Ngai Ngó, xã Ia Hrung, tỉnh G) để dự đám cưới. Tại đám cưới, K uống bia cùng mọi người dự đám cưới. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, K đi về nhà bố mẹ tại làng Ngai Ngó, xã Ia Hrung ngủ.

Đến khoảng 19 giờ 00 cùng ngày K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 81AU-074.10 đi từ làng Ngai Ngó, xã Ia Hrung, tỉnh G để đi đến nhà của Siu Thuyết (sinh năm 2004; trú tại làng Bạc 1, xã Chư Prông, tỉnh G, là người sống chung với Puih K như vợ chồng). Khi K điều khiển xe đến km 0+400, Tỉnh lộ 663 thuộc địa phận thôn Đoàn Kết, xã Bàu Cạn, tỉnh G, đây là đoạn đường không có đèn chiếu sáng, K điều khiển xe đi ở phần đường bên phải theo hướng đi với tốc độ 60-70km/h. Lúc này K phát hiện ông Rah Lan H (sinh năm 1967; trú tại thôn 2, xã Chư Prông, tỉnh G) đang đi bộ từ bên lề đường bên phải đi ra giữa đường ở phía trước. Khi phát hiện ra ông H thì xe của K cách ông H khoảng 2m, lúc này K bị giật mình và không kịp thắng xe lại nên xe của K tông vào ông H làm ông H ngã ra bên phải đường còn K cùng xe mô tô cũng bị ngã và tiếp tục lao về phía trước. K bị văng ra khỏi xe và bất tỉnh. Sau đó K và ông H được người dân đưa đi cấp cứu.

Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu của Puih K hồi 22h46p ngày 26/4/2025 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh G thể hiện: Puih K có nồng độ cồn là 178,8mg/dl.

Kết luận giám định pháp y tử thi số 402 ngày 19/5/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh G kết luận: Ông Rah Lan H chết do Chấn thương sọ não.

2

Kết luận giám định số 927 ngày 13/6/2025, của Phân viện Khoa học hình sự tại Đà Nẵng kết luận: Trong mẫu máu ghi thu của tử thi Rah Lan H gửi giám định có tìm thấy Ethanol (cồn), nồng độ Ethanol là 331miligam/100 mililít. Trong mẫu máu gửi giám định không tìm thấy các chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa của các chất ma túy.

Quá trình điều tra vụ án, tại phiên tòa bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại đều đồng ý và không khiếu nại về các Kết luận giám định.

Tại Bản Cáo trạng số: 10/CT-VKSKV8, ngày 08/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - G đã truy tố bị cáo Puih K, về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đề nghị:

- Về tội danh: Đề nghị tuyên bố bị cáo Puih K phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

- Về mức hình phạt:

+ Đề nghị áp dụng: các điểm a, b khoản 2 Điều 260; các Điều 38, 50, 54; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; khoản 1, khoản 2 Điều 9 và khoản 2, các điểm b, c khoản 3 Điều 12 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024.

+ Đề nghị xử phạt: Bị cáo Puih K từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.

- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng của vụ án:

+ Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô Yamaha Exciter, biển kiểm soát số 81AU-074.10, màu sơn xanh; số khung RLCUG1910RY015996, số máy G3M5E330817 (tình trạng xe đã bị hư hỏng).

+ Đối với 01 (một) thẻ căn cước công dân số 064204004997 do Cục CSQLHC về TTXH – Bộ Công an cấp ngày 29/4/2021 mang tên Puih K.

+ Đối với 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 81005374 do Công an huyện Ia Grai, tỉnh G cấp đối với xe mô tô biển kiểm soát số 81 AU-074.10 mang tên chủ sở hữu Puih K.

+ Đối với 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện của chủ xe mô tô – xe máy số 2500041483 do Tổng Công ty cổ phần bảo hiểm LPBank cấp ngày 23/01/2025 cho xe mô tô biển kiểm soát số 81AU-074.10, chủ xe Puih K.

3

Quá trình điều tra xác định, giấy tờ và chiếc xe mô tô này thuộc sở hữu của Puih K. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G đã trả lại giấy tờ và chiếc xe mô tô trên cho Puih K là có căn cứ. Vì vậy không đề cập đến.

- Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, Puih K đã tác động cha mẹ bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 400.000.000đ (bốn trăm triệu đồng) bao gồm tất cả các chi phí và tiền tổn thất tinh thần. Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận bồi thường và không yêu cầu gì thêm. Vì vậy, không đề cập giải quyết.

+ Đối với thương tích và hư hỏng của xe mô tô BKS: 81AU-074.10 của Puih K, thì Puih K đã có đơn từ chối giám định thương tật, định giá tài sản đối với phương tiện và cũng không có yêu cầu gì. Vì vậy, không đề cập giải quyết.

+ Đối với số tiền 400.000.000 đồng mà cha mẹ bị cáo Puih K là ông Puih K và bà Puih Tích đã bồi thường thay bị cáo, ông K và bà Tích không yêu cầu bị cáo phải trả lại. Vì vậy, không đề cập giải quyết.

- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án bị cáo Puih K nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Vào lúc 19 giờ, ngày 26 tháng 4 năm 2025, Puih K không có giấy phép lái xe theo quy định của pháp luật, đã sử dụng rượu bia (nồng độ cồn trong máu là 178,8mg/dl) trực tiếp điều khiển xe mô tô BKS 81AU-074.10 chạy theo hướng xã Bàu Cạn đến xã Chư Prông, khi đi đến đoạn Km 0+400m, tỉnh lộ 663 thuộc địa phận thôn Đoàn Kết, xã Bàu Cạn, tỉnh G. K không chú ý quan sát, không chấp hành biển báo cảnh báo nguy hiểm, không giảm tốc độ khi tầm nhìn bị hạn chế nên xe mô tô do K điều khiển đã tông vào ông Rah Lan H đang đi bộ cùng chiều. Hậu quả, ông H tử vong do chấn thương sọ não; Puih K bị thương và phương tiện xe mô tô BKS 81AU-074.10 của Puih K bị hư hỏng.

Lời khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo Puih K trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên toà là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông là do bị cáo Puih K không có giấy phép lái xe theo quy định của pháp luật, điều khiển xe mô tô tham gia giao thông mà trong máu có nồng độ cồn, quá trình điều khiển xe mô tô tham gia giao thông không chú ý quan sát, không chấp hành biển báo cảnh báo nguy hiểm,

4

không giảm tốc độ khi tầm nhìn bị hạn chế dẫn đến gây tại nạn cho ông Rah Lan H đang đi bộ cùng chiều.

Hành vi của bị cáo Puih K là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm vào khoản 1, khoản 2 Điều 9 và khoản 2, các điểm b, c khoản 3 Điều 12 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Puih K đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại các điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - G đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Puih K. Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo đã tác động cha mẹ bồi thường theo yêu cầu của gia đình bị hại. Quá trình điều tra vụ án, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Tại phiên tòa đại diện hợp pháp của bị hại xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, đã hoàn thành nhiệm vụ. Vì vậy, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 cho bị cáo là phù hợp.

Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của bị cáo Puih K là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo sử dụng đồ uống có cồn với nồng độ cao, gây tai nạn làm chết 01 người, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Vì vậy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo cải tạo, sửa chữa lỗi lầm và răn đe, phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tai nạn xảy ra cũng một phần lỗi của bị hại do đi bộ không sát mép đường khi không có hè phố và trong máu có nồng độ cồn. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án:

+ Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô Yamaha Exciter, biển kiểm soát số 81AU-074.10, màu sơn xanh; số khung RLCUG1910RY015996, số máy G3M5E330817 (tình trạng xe đã bị hư hỏng).

+ Đối với 01 (một) thẻ căn cước công dân số 064204004997 do Cục CSQLHC về TTXH – Bộ Công an cấp ngày 29/4/2021 mang tên Puih K.

5

+ Đối với 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 81005374 do Công an huyện Ia Grai, tỉnh G cấp đối với xe mô tô biển kiểm soát số 81 AU-074.10 mang tên chủ sở hữu Puih K.

+ Đối với 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện của chủ xe mô tô – xe máy số 2500041483 do Tổng Công ty cổ phần bảo hiểm LPBank cấp ngày 23/01/2025 cho xe mô tô biển kiểm soát số 81AU-074.10, chủ xe Puih K.

Quá trình điều tra xác định, giấy tờ và chiếc xe mô tô này thuộc sở hữu của Puih K. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G đã trả lại giấy tờ và chiếc xe mô tô trên cho Puih K là có căn cứ. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự:

+ Sau khi sự việc xảy ra, Puih K và gia đình đã tiến hành bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 400.000.000đ (bốn trăm triệu đồng), bao gồm tất cả các chi phí và tiền tổn thất tinh thần. Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận bồi thường và không yêu cầu gì thêm. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

+ Đối với thương tích và hư hỏng của xe mô tô BKS: 81AU-074.10 của Puih K, thì Puih K đã có đơn từ chối giám định thương tật, định giá tài sản đối với phương tiện và cũng không có yêu cầu gì. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

+ Đối với số tiền 400.000.000 đồng mà cha mẹ bị cáo Puih K là ông Puih K và bà Puih Tích đã bồi thường thay bị cáo, ông K và bà Tích không yêu cầu bị cáo phải trả lại. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo Puih K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng và Người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các điểm a, b khoản 2 Điều 260; các Điều 38, 50, 54; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025;

- Khoản 1, khoản 2 Điều 9; khoản 2, các điểm b, c khoản 3 Điều 12 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024;

6

- Khoản 2 Điều 136 của Bộ Luật tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố bị cáo Puih K phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt: Bị cáo Puih K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.

- Về án phí: Buộc bị cáo Puih K phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 10/02/2026) để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh G xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ