- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC X- ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2026/HS-ST Ngày: 20/01/2026 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC X- ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tự Soái.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Nễ và bà Huỳnh Thị Kim Oanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Chấn Hưng- Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực X- Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực X- Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Xuân- Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực X- Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 129/2025/TLST-HS ngày 24/12/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HS ngày 06/01/2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Đức T, sinh ngày 04/8/1984 tại: Đà Nẵng; căn cước công dân số: 049084016556, cấp ngày 28/8/2024, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội ; nơi thường trú và chỗ ở: Thôn Đông Đ, xã Điện T, thành phố Đà Nẵng; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Đức L và bà Phan Thị T (đều chết); vợ Võ Thị Hoài T, sinh năm: 1989 và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2020).
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Ông Lê Công M, sinh năm: 1964; trú tại: Thôn La H, xã Điện T,
thành phố Đà Nẵng (đã chết).
* Người đại diện hợp pháp của bị hại Lê Công M:
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1971 (là vợ ông M);
- Ông Lê Công H, sinh năm: 1993 (là con ruột ông M);
- Bà Lê Thị Thu T, sinh năm: 2003 (là con ruột ông M);
Cùng trú tại: Thôn La H, xã Điện T, thành phố Đà Nẵng; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sau khi đi công việc cá nhân và sử dụng rượu, khoảng 18 giờ 45 phút ngày 15/6/2025, Nguyễn Đức T (có giấy phép lái xe hạng A1, B2) một mình điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại Future, màu xám ghi, BKS 92D1-505.03 đi theo hướng UBND xã Điện Th (cũ) - xã Điện H (cũ) để về nhà tại thôn Đông Đ, xã Điện T, thành phố Đà Nẵng; T điều khiển xe trên qua cầu Đông H được khoảng 50m thì đến đoạn đường ĐH1 thuộc thôn La H, xã Điện T, thành phố Đà Nẵng. Đây là đoạn đường thẳng, bằng phẳng, có kết cấu bằng bê tông, rộng tổng thể 5,5 mét, không có vạch kẻ đường ở giữa, tầm nhìn không bị che khuất, đường cho phép hai chiều xe chạy, hướng Bắc đi xã Điện H (cũ), hướng Nam đi UBND xã Điện Th (cũ). T điều khiển xe mô tô BKS 92D1-505.03 đi lấn sang phần đường bên trái theo chiều di chuyển dẫn đến phần đầu và phần bên phải xe mô tô BKS 92D1-505.03 do T điều khiển va chạm với phần đầu và phần bên trái xe mô tô kiểu dáng Dream, BKS 92K3-5383, nhãn hiệu Holder, số loại 110, màu sơn nâu do ông Lê Công M (sinh năm 1964, trú thôn La H, xã Điện T, thành phố Đà Nẵng) đang điều khiển theo hướng ngược lại làm Nguyễn Đức T, ông Lê Công M và hai xe mô tô ngã xuống đường. Hậu quả: ông Lê Công M tử vong tại hiện trường, Nguyễn Đức T bị xây xát nhẹ, hai xe mô tô bị hư hỏng.
* Kết quả khám nghiệm hiện trƣờng thể hiện:
Chọn trụ điện ký hiệu 472E159/62 nằm ngoài lề đường đất phía bên phải (hướng xã Điện H đi UBND xã Điện Th cũ) làm điểm mốc. Chọn mép đường bên phải (hướng xã Điện H đi UBND xã Điện Th cũ) làm mép đường chuẩn. Tiến hành khám nghiệm, ghi nhận:
- Vị trí đánh dấu số 01: khu vực có dấu vết cày xước không liên tục trên mặt đường. Điểm đầu khu vực dấu vết cày xước này cách điểm mốc về hướng Đông Bắc 28m, cách mép đường chuẩn 2,58m, chiều hướng từ Nam sang Bắc (hướng UBND xã Điện Th đi xã Điện H cũ). Nơi rộng nhất của khu vực dấu vết này rộng 0,8m. Điểm cuối khu vực dấu vết kết thúc tại hai vị trí: vị trí thứ nhất tại đầu gác để chân sau bên phải xe mô tô BKS 92D1-505.03 dài 5,64m, cách mép đường chuẩn 3,15m, vị trí thứ hai tại thân gương bên phải xe mô tô BKS 92D1- 505.03 dài 6,4m, cách mép đường chuẩn 3,16m.
- Vị trí đánh dấu số 02: xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, màu đen, BKS 92D1-505.03 trong trạng thái ngã trên nền đường về phía bên phải xe, đầu xe quay về hướng đi xã Điện H (cũ) và chếch sang mép đường bên phải (hướng xã Điện H đi UBND xã Điện Th cũ), đuôi xe quay hướng ngược lại. Trục sau cách đầu vị trí đánh dấu số 01 về hướng Bắc 5,45m, cách mép đường chuẩn 3,25m; trục trước cách mép đường chuẩn 2,23m.
- Vị trí đánh dấu số 03: dấu vết màu nâu đỏ, dạng chà sát kết hợp với dạng nhỏ giọt trên mặt đường diện 1,1mx0,8m, tâm dấu vết này cách trục sau xe mô tô BKS 92D1-505.03 về hướng Đông Bắc 2,1m, cách mép đường chuẩn 4,62m.
- Vị trí đánh dấu số 04: dấu vết cày xước không liên tục trên mặt đường dài 1,77m, rộng 0,05m, chiều hướng từ Bắc sang Nam (hướng xã Điện H đi UBND xã Điện Th cũ), điểm đầu dấu vết cách đầu dấu vết số 01 về hướng Tây Nam 3,58m, cách mép đường chuẩn 2,58m. Điểm cuối dấu vết nằm tại vị trí tiếp xúc giữa gác để chân trước bên phải xe mô tô BKS 92K3-5383 với mặt đường, cách mép đường chuẩn 1,8m.
- Vị trí đánh dấu số 05: xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu trắng đen, BKS 92K3-5383 trong trạng thái ngã trên nền đường về phía bên phải, đầu xe quay về hướng đi UBND xã Điện Th (cũ) và chếch về phía bên phải (hướng xã Điện H đi UBND xã Điện Th cũ), đuôi xe quay về hướng ngược lại. Trục sau cách đầu vị trí số 04 về hướng Đông Nam 1,37m, cách mép đường chuẩn 2,08m, cách trục sau xe mô tô BKS 92D1-505.03 về hướng Tây Nam 10,35m; trục trước cách mép đường chuẩn 1,5m.
- Vị trí đánh dấu số 06: dấu vết màu nâu đỏ trên mặt đường, dạng vũng, diện 0,8mx0,6m, trên dấu vết cách trục sau xe mô tô BKS 92K3-5383 về hướng Tây Bắc 1,8m, cách mép đường chuẩn 0,3m.
* Kết luận giám định tử thi số 330/KLGĐTT-KTHS(PY) ngày 19/6/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam đối với ông Lê Công M kết luận:
- Các kết quả chính:
+ Dấu hiệu “Kính râm” mắt trái.
+ Khoang mũi miệng đọng nhiều máu.
+ Rạch da đầu kiểm tra: bầm tụ máu dưới da vùng trán thái dương bên trái; vùng trán thái dương trái có nhiều cục máu đông; xương trán thái dương bên trái có vết nứt vỡ; dịch nội sọ chảy ra ngoài qua vết nứt.
- Kết luận: nguyên nhân chết của ông Lê Công M là do chấn thương sọ não.
* Kết luận giám định số 1038/KL-KTHS ngày 25/6/2025 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận:
- Trong mẫu máu ghi thu của ông Lê Công M gửi giám định có tìm thấy Ethanol (cồn), nồng độ Ethanol là 56miligam/100mililit.
- Trong mẫu máu ghi thu của ông Lê Công M gửi giám định không tìm thấy các chất ma tuý và sản phẩm chuyển hoá của các chất ma tuý.
* Phiếu kết quả xét nghiệm sinh hoá của Bệnh viện Đa khoa Vĩnh Đ ngày 15/6/2025 đối với Nguyễn Đức T xác định:
Định lượng Ethanol (cồn) [Máu]: 152.7 miligam/100ml; âm tính với các chất ma túy.
* Kết luận định giá tài sản số 252/KL-HĐĐGTS ngày 09/10/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đà Nẵng kết luận:
- Giá trị thiệt hại của xe mô tô BKS 92D1-505.03, nhãn hiệu Honda, số loại Future, màu sơn xám ghi, số khung RLHJC7610GZ037706, số máy JC76E0055076 vào ngày 15/6/2025: 415.000 đồng.
- Giá trị thiệt hại của xe mô tô kiểu dáng Dream, BKS 92K3-5383, nhãn hiệu Holder, số loại 110, màu sơn nâu, số khung HD110200080048, số máy C152FMHY000158 ngày 15/6/2025: 203.000 đồng.
Tại Cáo trạng số: 21/CT-VKS ngày 22/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực X- Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực X- Đà Nẵng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Đức T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T từ 15 đến 18 tháng tù. Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đà Nẵng, Điều tra viên và Viện kiểm sát nhân dân Khu vực X- Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Đức T tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; người đại diện hợp pháp của bị hại; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Kết luận giám định tử thi; Phiếu kết quả xét nghiệm sinh hoá của cơ quan chức năng; vật chứng thu giữ cùng với các tài liệu, chứng cứ khác được Cơ quan điều tra chứng minh có tại hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 19 giờ ngày 15/6/2025, bị cáo Nguyễn Đức T (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô BKS 92D1-505.03 đi trên đoạn đường ĐH1 thuộc thôn La H, xã Điện T, thành phố Đà Nẵng trong tình trạng đã sử dụng rượu mà trong máu có nồng độ cồn 152.7 miligam/100ml, vượt quá mức quy định, đồng thời điều khiển xe tham gia giao thông đi không đúng phần đường quy định, lấn sang phần đường bên trái theo chiều di chuyển dẫn đến phần đầu và phần bên phải xe mô tô BKS 92D1-505.03 do bị cáo T điều khiển va chạm với phần đầu và phần bên trái xe mô tô BKS 92K3-5383 do ông Lê Công M điều khiển theo hướng ngược lại làm ông M ngã xuống đường dẫn đến tử vong.
Như vậy, hành vi và hậu quả nêu trên của bị cáo Nguyễn Đức T đã vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 9, khoản 1 Điều 10 Luật trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024 đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với tình tiết định khung “Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định...”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như nội dung truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ và đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo Nguyễn Đức T điều khiển xe mô tô lưu thông trên đường trong tình trạng đã sử dụng rượu mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, đồng thời điều khiển xe tham gia giao thông đi không đúng phần đường quy định, lấn sang phần đường bên trái theo chiều di chuyển dẫn đến gây ra tai nạn làm cho ông Lê Công M chết. Hành vi mà bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến tính mạng của người khác, mà còn xâm phạm đến chính sách quản lý trật tự xã hội về hoạt động an toàn giao thông của Nhà nước. Do vậy, theo quy định pháp luật nên cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội để cải tạo giáo dụng riêng, đồng thời ren đe phòng ngừa chung cho xã hội là cần thiết.
Tuy nhiên xét thấy khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội, trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo nhận tội, tỏ rõ sự ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình, đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại thỏa đáng và đại diện hợp pháp bị hại có đơn xin bãi nại và không yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo; gia đình bị cáo có công với cách mạng, bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Hội đồng xét xử sẽ xem xét các tình tiết này để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Xét thấy, bị cáo Nguyễn Đức T có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Đức T đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 220.000.000 đồng; đại diện hợp gia đình bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Sau tai nạn, bị cáo Nguyễn Đức T bị xây xát nhẹ, xe mô tô hiệu Honda BKS 92D1-505.03 bị hư hỏng, bị cáo T không yêu cầu gì nên không xem xét giải quyết.
Về vật chứng: Đối với xe mô tô hiệu Honda, loại Future, màu xám ghi, BKS 92D1-505.03, quá trình điều tra xác định xe trên do bị cáo Nguyễn Đức T đứng tên chủ sở hữu hợp pháp, Cơ quan điều tra đã trao trả xe trên cho bị cáo T theo quy định nên không xem xét.
Đối với xe mô tô hiệu Holder, loại 110, màu nâu, BKS 92K3-5383, quá trình điều tra xác định xe trên do ông Lê Công M đứng tên chủ sở hữu hợp pháp, Cơ quan điều tra đã trao trả xe trên cho đại diện của ông Lê Công M là ông Lê Công H (con ruột ông M) theo quy định nên không xem xét.
Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 Giấy phép lái xe hạng A1, B2, số 480054480276, ngày cấp 24/5/2023 mang tên Nguyễn Đức T, Hội đồng xét xử xét thấy nên trả lại cho bị cáo T là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức T 12 (Mười hai) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt thi hành án.
2. Về Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Hoàn trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức T 01 (Một) Giấy phép lái xe hạng A1, B2, số 480054480276, ngày cấp 24/5/2023 (mang tên Nguyễn Đức T).
(Vật chứng đang được tạm giữ tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực X-Đà Nẵng theo biên bản giao nhận ngày 23/12/2025).
3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Đức T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo gửi lên Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng để xin xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 20/01/2026). Đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc từ ngày niêm yết bản sao bản án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - TAND thành phố Đà Nẵng; - THADS thành phố Đà Nẵng; - VKSND Khu vực 10-Đà Nẵng; - Lưu hồ sơ vụ án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lê Tự Soái Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa |