vanban.org

Bản án 09/2026/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Trị Tuyên án 12/03/2026 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/03/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về án phí: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Đức C không chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đức C - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về án phí: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Đức C không chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2026/HS-PT
Ngày 12 - 3 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Kim Thương

Các Thẩm phán:

Bà Từ Thị Hải Dương;

Ông Trần Anh Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Hồng Huệ- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu- Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2026, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 01/2026/TLPT- HS ngày 07 tháng 01 năm 2026, đối với bị cáo Lê Đức C, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2025/HS-ST ngày 25 tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4- Quảng Trị.

Bị cáo có kháng cáo: Lê Đức C, sinh ngày 06 tháng 02 năm 1986 tại xã S, tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn T, xã S, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Lê Thị L; vợ Thái Thị N, có 01 con sinh năm 2022, tiền án: 01; Bản án số 17/2023/HSST ngày 12/7/2023, Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ (cũ), tỉnh Quảng Trị xử phạt 07 tháng tù về tội đánh bạc, chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/9/2023. Tiền sự: Không có.

Nhân thân:

- Ngày 23/7/2007, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xử phạt 06 năm tù về tội cướp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/9/2009;

- Ngày 27/9/2022, Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ (cũ), tỉnh Quảng Trị xử phạt tiền 25.000.000 đồng về tội đánh bạc (đã thi hành xong);

Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 20/7/2025, Lê Đức C, Lê Quang H, Lê Xuân Ơ và Lê Quang T đến nhà của Lê Xuân T1, trú tại thôn H, xã S, tỉnh Quảng Trị. Tại đây, C, H, Ơ và T rủ nhau đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức “T2 lên miền nam".

Lê Đức C, Lê Quang H, Lê Xuân Ơ và Lê Quang T khai nhận: Một bộ bài tú lơ khơ gồm 52 lá bài gồm: lá bài A,2,3,4,5,6,7,8,9,10,J,Q,K và có 4 chất Cơ, R, C1, B. Đơn: lá bài độc lập không kết hợp bất kỳ lá bài nào khác, ví dụ; 3 hoặc 7. Đôi: là hai lá bài có cùng giá trị, ví dụ: Đôi 5, Đ. Ba: là ba lá bài có cùng giá trị, ví dụ: ba 10, ba K. Sảnh: là ba hoặc nhiều hơn ba lá bài có giá trị liên tiếp nhau, ví dụ: Sảnh 6,7,8; sảnh 9, 10, J, Q: là gồm 4 lá bài có giá trị giống nhau, ví dụ: tứ quý 3, tứ quý K. Mỗi người tham gia đánh được chia 13 lá bài, người chia bài đánh đầu tiên. Trong quá trình đánh bài thì người nào đánh hết các lá bài trên tay thì về nhất, những người còn lại sẽ trả cho người về nhất 50.000 đồng. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, tổ công tác Công an xã S, tỉnh Quảng Trị tiến hành tuần tra kiểm soát, phát hiện lập biên bản về hành vi đánh bạc đối với C, H, Ơ, T và thu giữ tang vật. Tổng số tiền dùng để đánh bạc là 3.250.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2025/HSST ngày 25/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4- Quảng Trị, đã quyết định:

Căn cứ khoản 2 Điều 136, điểm g khoản 2 Điều 260, khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269, khoản 1 Điều 298, khoản 1 Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lê Đức C phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Lê Đức C 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

Ngày 01/12/2025, bị cáo Lê Đức C có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị phát biểu ý kiến: Bản án sơ thẩm đã xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo C có nộp thêm Đơn trình bày gia đình hoàn cảnh khó khăn, mẹ đang điều trị bệnh ung thư phổi (kèm theo bệnh án) có chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú xác nhận, bị cáo là lao động chính nên áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016 xử: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa một phần bản án sơ thẩm về phần hình phạt, giảm cho bị cáo 03 tháng tù. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội: Bị cáo C khai nhận, ngày 20/7/2025, bị cáo cùng Lê Quang H, Lê Xuân Ơ và Lê Quang T đánh bạc được thua bằng tiền, dưới hình thức “tiến lên miền nam”, số tiền C, H, Ơ và T sử dụng để đánh bạc 3.250.000 đồng, do bị cáo C đã bị kết án về tội đánh bạc tại Bản án hình sự số 17/2023/HSST ngày 12/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ (cũ), tỉnh Quảng Trị chưa được xóa án tích nên tiền án này là tình tiết định tội, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo Lê Đức C: Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo nộp 01 Đơn trình bày hoàn cảnh gia đình có địa phương nơi bị cáo cư trú xác nhận, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, vợ chồng bị cáo không có công việc ổn định, nuôi con nhỏ, bị cáo không có bố, bản thân còn nuôi, chăm sóc mẹ đang điều trị bệnh ung thư phổi đã di căn (có bệnh án kèm theo), nên áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng, số tiền bị cáo sử dụng đánh bạc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, tiền án là tình tiết định tội, khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định mức phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm, mức hình phạt 12 tháng cấp sơ thẩm xử phạt có phần nặng, tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ, nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo chấp hành hình phạt tù thời gian ngắn hơn để có thời gian chăm sóc mẹ đau ốm.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị về giảm hình phạt cho bị cáo nhưng giảm ở mức nhiều hơn đề nghị của Viện kiểm sát, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Đức C, sửa bản án sơ thẩm về hình phạt.

Bị cáo là lao động chính, đang nuôi mẹ bị bệnh nên không bắt bị cáo ngay tại phiên tòa, tạo điều kiện cho bị cáo có điều kiện sắp xếp việc gia đình để đi thi hành án.

Các quyết định khác của bản án không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Đức C, sửa Bản án sơ thẩm số 21/2025/HSST ngày 25/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4- Quảng Trị, về hình phạt.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lê Đức C 07 (bảy) tháng tù, về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

2. Về án phí: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Đức C không chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ