vanban.org

Bản án 09/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị Mỹ K đối với anh Ngô Văn M.

Về con chung: Giao cháu Ngô Thị Hồng T, sinh ngày 13/9/2019 cho chị Trương Thị Mỹ K trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Ngô Văn M có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được quyền cản trở. Về cấp dưỡng: Chị Trương Thị Mỹ K không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Thị Mỹ K - Ngô Văn M"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị Mỹ K đối với anh Ngô Văn M.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 29/01/2026
V/v “Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Ghết

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Bạch Đằng

2. Bà Trần Thị Phương Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Dung, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Trần Trung Kiên - Kiểm sát viên. Ngày 29 tháng 01 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 139/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trương Thị Mỹ K, sinh năm 1993

Địa chỉ: Tổ D, khu phố M, phường P, tỉnh Lâm Đồng.

CCCD số: xxxxxxxxxxxxx; ngày cấp: 10/5/2021; nơi cấp: Cục C về TTXH

Bị đơn: Anh Ngô Văn M, sinh năm 1990

Địa chỉ: Ấp T, xã V, tỉnh Cà Mau

CCCD số: xxxxxxxxxxxx; ngày cấp: 15/11/2022; nơi cấp: Cục C về TTXH

(Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, biên bản ghi lời khai nguyên đơn chị Trương Thị Mỹ K trình bày: Chị và anh Ngô Văn M xây dựng hôn nhân năm 2017. Đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận (nay là phường P, tỉnh Lâm Đồng). Hôn nhân của chị là tự nguyện.

Vợ chồng chị chung sống có 01 con chung là Ngô Thị Hồng T, sinh ngày 13/9/2019. Cháu T đang sống cùng chị.

Trong thời gian chung sống vợ chồng chị xảy ra mâu thuẫn do không hợp tính tình, vợ chồng thường xuyên cự cải với nhau. Sau khi kết hôn, chị và anh M sinh sống tại nhà chị ở xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận (nay là phường P, tỉnh Lâm Đồng), khi chị mang thai cháu T được 3 tháng thì chị và anh M xảy ra mâu thuẫn và anh M bỏ về nhà cha mẹ ruột tại ấp T, xã V, tỉnh Cà Mau sinh sống cho đến nay. Giữa chị và anh M không còn tình cảm với nhau, không thể hàn gắn được nữa nên yêu cầu ly hôn với anh Ngô Văn M.

Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi cháu Ngô Thị Hồng T, chị không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

* Anh Ngô Văn M được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.

* Ý kiến của kiểm sát viên:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa.

Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Nguyên đơn bị đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.

Về nội dung: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.

- Hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị Mỹ K với anh Ngô Văn M.

- Về con chung: Giao cháu Ngô Thị Hồng T cho chị Trương Thị Mỹ K trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Ngô Văn M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

- Về cấp dưỡng: Chị Trương Thị Mỹ K không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét giải quyết.

- Tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Ngô Văn M cư trú tại ấp T, xã V, tỉnh Cà Mau. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Nguyên đơn chị Trương Thị Mỹ K có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn anh Ngô Văn M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vắng mặt không có lý do; Căn cứ Điều 227; Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Trương Thị Mỹ K và anh Ngô Văn M.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị Mỹ K và anh Ngô Văn M có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Hôn nhân giữa chị K và anh M là tự nguyện và hợp pháp. Chị K xác định vợ chồng chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cự cải với nhau. Thực tế chị K và anh M đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân giữa chị K và anh M không có biện pháp nào để hàn gắn hôn nhân. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho anh Ngô Văn M để tham gia các buổi làm việc, hòa giải, phiên tòa nhưng anh M đều vắng mặt không có lý do. Cho thấy anh M không có thiện chí muốn hàn gắn mối quan hệ hôn nhân.

Hội đồng xét xử thấy rằng đời sống hôn nhân giữa chị Trương Thị Mỹ K và anh Ngô Văn M đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể hàn gắn, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị Mỹ K đối với anh Ngô Văn M.

Về con chung: Chị Trương Thị Mỹ K xác định có 01 con chung là Ngô Thị Hồng T, sinh ngày 13/9/2019. Chị K yêu cầu được nuôi cháu Ngô Thị Hồng T. Hội đồng xét xử thấy rằng: Cháu Ngô Thị Hồng T đang do chị K trực tiếp nuôi dưỡng và sống ổn định với chị K, do vậy, để bảo vệ quyền lợi của con sau ly hôn, không làm xáo trộn cuộc sống cũng như ảnh hưởng đến tâm lý của con, Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao cháu Ngô Thị Hồng T cho chị Trương Thị Mỹ K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Ngô Văn M có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được quyền cản trở.

Về cấp dưỡng: Chị Trương Thị Mỹ K không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trương Thị Mỹ K xác định không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Trương Thị Mỹ K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.

Những phân tích, nhận định và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với tài liệu chứng cứ cũng như phân tích, đánh giá của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí.

Tuyên xử:

1.Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trương Thị Mỹ K đối với anh Ngô Văn M.

2. Về con chung: Giao cháu Ngô Thị Hồng T, sinh ngày 13/9/2019 cho chị Trương Thị Mỹ K trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Ngô Văn M có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được quyền cản trở.

Về cấp dưỡng: Chị Trương Thị Mỹ K không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Trương Thị Mỹ K xác định không có, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Trương Thị Mỹ K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng. Chị K đã dự nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002399 ngày 17/10/2025 tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 7 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau được chuyển thu án phí.

5. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ