- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lý Thị T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Lý Thị T.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2026/HNGĐ-ST Ngày 15/5/2026 Về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Khoàng Văn Sơn
2. Bà Nguyễn Thị Trang
- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Tố Uyên - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5-Điện Biên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Giàng A Khở - Kiểm sát viên.
Ngày 15/5/2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Điện Biên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 53/2026/TLST- HNGĐ ngày 01/4/2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/4/2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lý Thị T, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Bản N, xã M, tỉnh Điện Biên. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Vàng A Ch, sinh năm 1995; Nơi ĐKTT: Bản N, xã M, tỉnh Điện Biên (Trại giam Yên Hạ, Cục C10, Bộ Công an). Vắng mặt do có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn trình bày:
Về hôn nhân: Ngày 16/3/2015 chị T, anh Ch có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ch, huyện N, tỉnh Điện Biên (nay là xã M, tỉnh Điện Biên), kết hôn tự nguyện, chung sống với nhau ổn định, hạnh phúc và có 04 con chung. Vào đầu năm 2023 thì anh Chinh có hành vi mua bán trái phép chất ma túy và bị xét xử theo bản án hình sự sơ thẩm số 111/2023/HS-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Điên Biên, hình phạt là 20 năm tù, hiện tại đang chấp hành án tại Trại giam Yên Hạ, Cục C10, Bộ Công an. Chị T không muốn duy trì tình cảm với anh Ch nữa, do anh Ch phải chịu mức án cao nên chị T không có nguyện vọng chờ đợi, đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 5 - Điện Biên giải quyết cho chị được ly hôn với anh Vàng A Ch.
Về con riêng, con nuôi: Chị T và anh Ch không có con riêng, không có con nuôi.
Về con chung: Có 04 con chung là Vàng A H, sinh ngày 05/8/2014, Vàng Sinh M, sinh ngày 15/10/2017, Vàng Thị D, sinh ngày 10/10/2019, Vàng Chầu Ch, sinh ngày 19/10/2022. Chị T yêu cầu nuôi 04 con chung, không yêu cầu anh Ch cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản riêng, tài sản chung, nợ chung, nợ riêng: Không có tài sản riêng, không có tài sản chung, không có nợ riêng, không có nợ chung. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Vàng A Ch:
Bản tự khai, có xác nhận của Trại giam Yên Hạ gửi Tòa án: Anh Ch trình bày về quan hệ hôn nhân thống nhất với nguyên đơn chị T về thời điểm đăng ký kết hôn, thống nhất về con chung và tài sản, công nợ chung. Bị đơn khai bị Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xử phạt 20 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án hình sự sơ thẩm số 111/2023/HS-ST ngày 25/9/2023. Hiện tại đang bị tạm giam tại Trại giam Yên Hạ, cục C10, Bộ công an. Bị đơn anh Ch bày tỏ quan điểm không đông ý ly hôn; Về con chung: Nhất trí để vợ nuôi 4 con chung, vì đang chấp hành án tại trại nên không có điều kiện cấp dưỡng nuôi các con chung; Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung, nợ riêng: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Toà án đã thông báo hợp lệ về việc thụ lý vụ án; được Toà án triệu tập hợp lệ đến làm việc, tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải nhưng vắng mặt có lý do (Hiện đang bị tạm giam tại Trại giam), do đó Tòa án không tiến hành hòa giải. Tòa án tiến hành tiếp cận công khai chứng cứ và thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ theo quy định.
Ngày 28/4/2026 Tòa án nhân dân khu vực 5 - Điện Biên ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án đã tống đạt hợp lệ quyết định xét xử cho các đương sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị T có mặt và giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với bị đơn. Bị đơn anh Ch vắng mặt, trong đơn xin xét xử vắng mặt bị đơn nêu quan điểm không đồng ý ly hôn; Về con chung đồng ý giao 4 con chung cho vợ nuôi dưỡng, không cấp dưỡng nuôi con chung vì đang chấp hành án; Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung, nợ riêng: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa sơ thẩm, kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu về việc tuân thủ và chấp hành pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử: Chấp hành và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của nguyên đơn chị Lý Thị T; Về con chung: Căn cứ Điều 58, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của chị T; Về án phí, căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị miễn án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn chị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về tố tụng:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với bị đơn, bị đơn có địa chỉ cư trú tại bản N, xã M, tỉnh Điên Biên, đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5- Điện Biên. Tòa án nhân dân khu vực 5- Điện Biên thụ lý giải quyết là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về việc vắng mặt của bị đơn:
Bị đơn anh Ch có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Xét quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Ch kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo đúng quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên hôn nhân giữa chị T và anh Ch là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị T:
Chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh Ch. Hội đồng xét xử thấy, các đương sự chung sống ổn định với nhau đến năm 2023 thì bị đơn anh Ch bị Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xử phạt 20 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án hình sự sơ thẩm số 111/2023/HS-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Điên Biên, hiện tại đang bị tạm giam tại Trại giam Yên Hạ, Cục C10, Bộ Công an. Xét thấy, chị T không duy trì được tình cảm do vợ chồng xa cách, không có nguyện vọng chờ đợi anh Ch do anh Ch phải chấp hành án lâu dài, mục đích của cuộc sống hôn nhân không đạt được, do đó cần căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T.
Xét yêu cầu nuôi con chung của chị T: Chị T và anh Ch Có 04 con chung là Vàng A H, sinh ngày 05/8/2014, Vàng Sinh M, sinh ngày 15/10/2017, Vàng Thị D, sinh ngày 10/10/2019, Vàng Chầu Ch, sinh ngày 19/10/2022. Chị T yêu cầu nuôi 04 con chung, không yêu cầu anh Ch cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy các con chung từ nhỏ đã ở với mẹ, đến khi anh Ch đi chấp hành án thì các cháu vẫn ở với mẹ, các cháu đã quen với việc được chăm sóc từ mẹ và trong đơn ghi nguyện vọng các cháu cũng có nguyện vọng được ở với mẹ, hơn nữa anh Ch hiện dang chấp hành án trong trại giam nên không có điều kiện để nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy để cuộc sống cũng như việc học tập của các cháu không bị xáo trộn, cần căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giao các con chung là các cháu H, M, D, Ch cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục để đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên. Anh Ch có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Các bên đương sự cũng có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.
Về tài sản riêng, tài sản chung, nợ riêng, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn chị T.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 227, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Lý Thị T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị T được ly hôn với anh Vàng A Ch.
2. Về con chung: Giao các cháu Vàng A H, sinh ngày 05/8/2014, Vàng Sinh M, sinh ngày 15/10/2017, Vàng Thị D, sinh ngày 10/10/2019, Vàng Chầu Ch, sinh ngày 19/10/2022 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng cho tới khi các cháu thành niên và có khả năng lao động. Chị T không yêu cầu anh Chinh cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Ch có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở. Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.
3. Về tài sản riêng, tài sản chung, nợ riêng, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn chị Lý Thị T.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 15/5/2026). Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Phòng GĐ, KT, TT và THA (TAND tỉnh Điện Biên); - Viện kiểm sát khu vực 5 - Điện Biên; - Các đương sự; - THADS tỉnh Điện Biên; - UBND xã Mường Chà; tỉnh Điện Biên; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Nhung |