- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vũ Hải Y - Phạm Hồng P"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56 và Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 9; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa á…
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Luật Tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2026/HNGĐ-ST Ngày 04-03-2026 “V/v Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Cử
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Khuất Thị Thanh
Bà Triệu Thị Liên
- Thư ký phiên tòa: Ông Linh Đức Minh - Thư ký viên Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 03 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 112/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 01 năm 2026; Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2026/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Vũ Hải Y, sinh năm 1972; địa chỉ: Số nhà 140, đường L, tổ dân phố 17, phường H, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Phạm Hồng P, sinh năm 1966; địa chỉ: Số nhà 140, đường L, tổ dân phố 17, phường H, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 19/8/2025, bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Vũ Hải Y trình bày:
Bà và ông Phạm Hồng P trước khi kết hôn hoàn toàn tự nguyện tìm hiểu, không bị ép buộc và có tổ chức lễ cưới hỏi theo phong tục tập quán tại địa phương, đến ngày 14/12/1989 có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã Tr, huyện N, tỉnh H (nay là UBND xã C, tỉnh N). Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 36 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do có sự khác nhau về quan điểm và cách sống dẫn đến bất đồng, thường xuyên xảy ra cãi vã, xô xát, đánh chửi nhau gay gắt. Mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên bảo nhiều lần nhưng mâu thuẫn không cải thiện được. Bà Y và ông P đã sống ly thân từ khoảng đầu năm 2023 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Bà Y làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với ông Phạm Hồng P.
- Về con chung: Quá trình chung sống Bà Y và ông P có 02 con chung là Phạm Đình H, sinh ngày 13/10/1990 và Phạm Văn A, sinh ngày 08/11/2001. Hiện nay các con đã trưởng thành, đủ 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản, công nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Bà Vũ Hải Y tự nguyện chịu toàn bộ tiền án phí theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho ông Phạm Hồng P nhưng ông P vẫn không đến Tòa án để làm việc và không cung cấp tài liệu chứng cứ gì cho Tòa án nên không ghi nhận được ý kiến của ông P đối với yêu cầu xin ly hôn của bà Vũ Hải Y.
Tại biên bản lấy lời khai ông Phạm Hồng P, ngày 11/12/2025 thể hiện: Ông P và Bà Y trước khi kết hôn hoàn toàn tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 14/12/1989 tại Ủy ban nhân dân xã Tr, huyện N, tỉnh H (nay là UBND xã C, tỉnh N). Quá trình chung sống hoàn toàn bình thường, đến khoảng năm 2023 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra tranh cãi. Nay Bà Y có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với ông thì ông cũng nhất trí. Các con chung của ông P và Bà Y đều đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản, công nợ chung: Không có.
Ông P xác nhận nội dung trong biên bản ghi lời khai đều đúng, tuy nhiên ông P không ký vào bất kỳ biên bản nào của Tòa án.
Tại biên bản xác minh và biên bản lấy lời khai của anh Phạm Đình H (là con trai cả của ông P và Bà Y) xác nhận: Bà Vũ Hải Y và ông Phạm Hồng P trong quá trình chung sống có phát sinh mâu thuẫn, nhưng chỉ trong góc độ gia đình, chưa báo lên chính quyền địa phương để giải quyết, hòa giải. Ông P hiện nay vẫn có mặt ở địa phương nhưng ông P làm nghề lái xe nên cũng thường xuyên đi xa, cuối tuần mới có mặt ở nhà. Tổ trưởng tổ dân phố đã tống đạt văn bản của Tòa án cho ông P nhưng lý do ông P không đến Tòa án giải quyết thì chính quyền địa phương không nắm được.
Do ông Phạm Hồng P không đến Tòa án làm việc nên Tòa án không tiến hành hòa giải giữa Bà Y và ông P được. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định.
Tại đơn xin xét xử vắng mặt của bà Vũ Hải Y thể hiện: Bà vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông Phạm Hồng P. Về con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản, công nợ chung Bà Y không yêu cầu giải quyết; Về án phí Bà Y tự nguyện chịu án phí theo quy định của pháp luật.
-2-
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Tuyên Quang phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa.
- Về tuân theo pháp luật: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đầy đủ, đúng các trình tự thủ tục theo Bộ luật tố tụng dân sự, đúng quy định của pháp luật.
- Về những người tham gia tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ, đúng quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn không đến Tòa án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 BLTTDS đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết các yêu cầu của nguyên đơn theo hướng:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Hải Y.
+ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Vũ Hải Y và ông Phạm Hồng P được ly hôn.
+ Về con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về tài sản chung, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về án phí: Bà Y phải chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Nguyên đơn bà Vũ Hải Y có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Phạm Hồng P, cư trú tại Số nhà 140, đường L, tổ dân phố 17, phường H, tỉnh Tuyên Quang. Do đó, Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Tuyên Quang thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ, ra quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng trình tự, thủ tục luật định.
Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa nguyên đơn bà Vũ Hải Y vắng mặt có lý do (có đơn xin xét xử vắng mặt), bị đơn ông Phạm Hồng P vắng mặt không có lý do (đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần). Căn cứ vào các Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Hải Y và ông Phạm Hồng P trước khi kết hôn hoàn toàn được tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn vào ngày 14/12/1989 tại
-3-
Ủy ban nhân dân xã Tr, huyện N, tỉnh H (nay là UBND xã C, tỉnh N) nên có cơ sở kết luận quan hệ hôn nhân giữa Bà Y và ông P là hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ, chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian, thì phát sinh mâu thuẫn kéo dài cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, cuộc sống không hòa thuận, hôn nhân không hạnh phúc. Mâu thuẫn của Bà Y, ông P đã được hai bên gia đình khuyên bảo, hòa giải nhưng cũng không có kết quả, hai vợ chồng Bà Y đã sống ly thân với nhau đến nay đã nhiều năm nên Bà Y có đơn xin ly hôn với ông P. Qua quá trình xem xét, đánh giá các tài liệu, chứng cứ và quá trình xác minh tại địa phương, Hội đồng xét xử nhận thấy rằng tình trạng hôn nhân giữa Bà Y và ông P mâu thuẫn thực sự đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, Bà Y và ông P đã sống ly thân được khoảng 03 năm cho đến thời điểm hiện tại. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Hải Y, xử cho bà Vũ Hải Y được ly hôn với ông Phạm Hồng P là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Quá trình chung sống bà Vũ Hải Y và ông Phạm Hồng P có 02 con chung là Phạm Đình H, sinh ngày 13/10/1990 và Phạm Văn A, sinh ngày 08/11/2001. Hiện nay các con đã trưởng thành, đủ 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ chung: Bà Vũ Hải Y không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà Vũ Hải Y phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Tuyên Quang tham gia phiên tòa đồng thuận với ý kiến của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28; Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 “Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56 và Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 9; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Hải Y.
2. Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Hải Y được ly hôn với ông Phạm Hồng P.
3. Về án phí: Bà Vũ Hải Y phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm ly hôn được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm
-4-
do bà Vũ Hải Y đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000819 ngày 16 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án Dân sự tỉnh Tuyên Quang.
4. Quyền kháng cáo: Bà Vũ Hải Y và ông Phạm Hồng P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND Khu vực 4 - Tuyên Quang; - THADS tỉnh Tuyên Quang; - UBND xã C; - Các đương sự; - Lưu HS. -5- | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Cử |