vanban.org

Bản án 09/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Trăm A.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Trăm A được ly hôn với ông Lê Văn H {Giấy chứng nhận kết hôn số 24 ngày 22/3/2023 của Ủy ban nhân dân phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh)}. Về con chung: Buộc ông Lê Văn H giao người con chung tên Lê Nguyễn Minh N, sinh n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị Trăm Anh yêu cầu ly hôn với ông Lê Văn Hải"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Trăm A.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 09/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 07/01/2026
Về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Túy Phượng;

2. Ông Lê Văn Công.

- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Yến, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 01 năm 2026, tại Tòa án nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 776/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2025 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 347/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/12/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Trăm A, sinh năm 2002; nơi thường trú: Tổ A, khu phố T, xã V, tỉnh An Giang; nơi tạm trú: Ô 25 lô T, khu phố D, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Lê Văn H, sinh năm 2001; nơi thường trú: Ô 25, lô T, khu phố D, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bà Nguyễn Thị Trăm A và ông Lê Văn H có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Trăm A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Trăm A và ông Lê Văn H sau thời gian tìm hiểu thì tự nguyện về sống chung với nhau, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh) theo giấy đăng ký kết hôn số 24 ngày 22/3/2023. Cuộc sống hạnh phúc được khoảng thời gian đầu, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, ông H thường xuyên ăn nhậu. Ông H không phụ giúp bà trong vấn đề kinh tế, mọi chi tiêu, sinh hoạt trong gia đình đều do một mình bà A gánh vác. Vì vậy, cuộc sống vợ chồng trở nên ngột ngạt, căng thẳng, gây mệt mỏi cho nhau. Vì con, bà đã cố gắng nhẫn nhịn để con có một gia đình hạnh phúc, và tạo điều kiện để ông H thay đổi nhưng ông H không thay đổi được. Nay bà A xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà A được ly hôn với ông Lê Văn H.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 người con chung tên Lê Nguyễn Minh N, sinh ngày 09/10/2023. Bà Nguyễn Thị Trăm A yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông H thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình tố tụng bị đơn ông Lê Văn H trình bày: Thống nhất lời trình bày của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Trăm A về điều kiện kết hôn, thời gian kết hôn, thời gian chung sống và con chung. Về nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên có cãi nhau nhưng vợ chồng vẫn sống chung. Ông H xác định vẫn còn tình cảm với vợ nên không đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 người con chung tên Lê Nguyễn Minh N, sinh ngày 09/10/2023. Ông Lê Văn H yêu cầu trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu bà A thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Tòa án, nguyên đơn và bị đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự, không kiến nghị khắc phục, bổ sung các thủ tục tố tụng. Căn cứ vào Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng quy định. Về nội dung vụ án, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Trăm A.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về điều kiện thụ lý vụ án: Căn cứ vào đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Trăm A đây là vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn là ông Lê Văn H có địa chỉ tại Ô 25, lô T, khu phố D, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết theo quy định tại Điều 35 và Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Trăm A và ông Lê Văn H là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh) theo giấy đăng ký kết hôn số 24 ngày 22/3/2023 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.

Bà Nguyễn Thị Trăm A xác định sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian ngắn, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng mâu thuẫn về vấn đề kinh tế, tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống. Vì vậy, vợ chồng thường xuyên cãi vã, khiến cuộc sống trở nên ngột ngạt, căng thẳng, gây mệt mỏi cho nhau. Tình cảm vợ chồng lạnh nhạt, không chia sẻ, đồng cảm với nhau các vấn đề trong cuộc sống. Ông Lê Văn H cũng thừa nhận vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên có cãi nhau, tuy nhiên ông H không đồng ý ly hôn, mong muốn vợ chồng đoàn tụ.

Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt được mục đích đó, vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt.

Bà Nguyễn Thị Trăm A và ông Lê Văn H đều thống nhất vợ chồng có nhiều mâu thuẫn. Ông Lê Văn H không đồng ý ly hôn vì còn yêu thương vợ nhưng không có hành động tích cực để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Như vậy có căn cứ xác định mâu thuẫn hôn nhân của bà Nguyễn Thị Trăm A và ông Lê Văn H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Trăm A là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên có căn cứ chấp nhận.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 người con chung tên Lê Nguyễn Minh N, sinh ngày 09/10/2023. Bà Nguyễn Thị Trăm A và ông Lê Văn H đều có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu cấp dưỡng. Xét thấy, việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét về mọi mặt và quyền lợi của con chưa thành niên. Quá trình tố tụng, bà A, ông H đều thừa nhận, hàng ngày việc chăm sóc, nuôi dạy con đều do bà A thực hiện, ông H bận đi làm nên không có nhiều thời gian chăm sóc con. Trong thời gian trước đây và hiện nay con chung vẫn do bà A nuôi dưỡng và đảm bảo tốt về mọi mặt. Nên căn cứ vào Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có cơ sở để chấp nhận nguyện vọng của bà Nguyễn Thị Trăm A là được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung tên Lê Nguyễn Minh N, sinh ngày 09/10/2023.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Trăm A không yêu cầu ông Lê Văn H thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.

Từ những phân tích nêu trên, Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Trăm A.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Trăm A được ly hôn với ông Lê Văn H {Giấy chứng nhận kết hôn số 24 ngày 22/3/2023 của Ủy ban nhân dân phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh)}.

Về con chung: Buộc ông Lê Văn H giao người con chung tên Lê Nguyễn Minh N, sinh ngày 09/10/2023 cho bà Nguyễn Thị Trăm A tiếp tục nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Trăm A không yêu cầu ông Lê Văn H thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Sau ly hôn, bà Nguyễn Thị Trăm A và ông Lê Văn H có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở ông, bà thực hiện quyền này. Trường hợp ông Lê Văn H lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hưởng xấu đến việc bà Nguyễn Thị Trăm A nuôi con thì bà A có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của ông H theo quy định của pháp luật. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Trăm A phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí về ly hôn, được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0041003 ngày 21/11/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Trăm A đã nộp đủ.

3. Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ