- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Bùi Thị S khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con với ông Bùi Văn H"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị S.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2026/HNGĐ-ST Ngày: 05-02-2026 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đỗ Quang Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Song Trà
Ông Bùi Vạn Huynh
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đăng Tín, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi tham gia phiên toà: Ông Võ Hồng Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 194/2025/TLST-HNGĐ ngày 29/10/2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/01/2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị S, sinh năm 1980; địa chỉ: Tổ 8, phường C, tỉnh Quảng Ngãi.
- Bị đơn: Ông Bùi Văn H, sinh năm 1974; địa chỉ: Tổ 8, phường C, tỉnh Quảng Ngãi.
(Tại phiên tòa, ông H có mặt, bà S có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai có tại hồ sơ vụ án, nguyên đơn là bà Bùi Thị S trình bày:
Bà và ông Bùi Văn H sau một thời gian tự nguyện tìm hiểu, sau đó đã đăng ký kết hôn và được UBND xã B, huyện B (nay là UBND xã Đ), tỉnh Quảng Ngãi cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 14/3/2016.
Trong quá trình chung sống với nhau vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng, có suy nghĩ và quan điểm sống hoàn toàn khác biệt, không thể nào dung hợp được. Nghiêm trọng hơn, ông H nhiều lần có hành vi bạo lực, đánh đập và đe dọa bà, gây ảnh hưởng trực tiếp đến tinh thần, sức khỏe cũng như sự an toàn của bà và con. Hiện tại, bà và ông H đã không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mâu thuẫn đã trầm trọng, tình trạng hôn nhân thực sự đã rạn nứt, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà yêu cầu ly hôn ông Bùi Văn H.
- Về con chung: Bà và ông H có 01 con chung là cháu Bùi Gia Kh, sinh ngày 27/5/2017. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Kh, không yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
* Tại các bản trình bày và tại phiên tòa, bị đơn là ông Bùi Văn H trình bày:
Ông và bà Bùi Thị S tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện B (nay là UBND xã Đ), tỉnh Quảng Ngãi và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 14/3/2016. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống khá hạnh phúc và có với nhau 01 người con chung. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống với nhau vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng, có suy nghĩ và quan điểm sống hoàn toàn khác biệt, không thế nào dung hợp được. Ông và bà S đã sống ly thân từ tháng 09 năm 2025 đến nay.
Nay bà Bùi Thị S yêu cầu ly hôn thì ông không đồng ý, vì ông còn yêu thương vợ con nên ông không muốn ly hôn.
- Về con chung: Ông và bà Bùi Thị S có 01 con chung là cháu Bùi Gia Kh, sinh ngày 27/5/2017. Trường hợp Tòa án chấp nhận cho ly hôn thì ông đồng ý giao cháu Khiêm cho bà S tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, ông không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi:
- Về tố tụng: Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử, chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn và bị đơn chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị S.
+ Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị S được ly hôn với ông Bùi Văn H.
+ Về con chung: Giao cháu Bùi Gia Kh sinh ngày 27/5/2017 cho bà Bùi Thị S trực tiếp nuôi dưỡng, ông Bùi Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được quyền cản trở.
+ Về tài sản chung: Không có.
+ Về nợ chung: Không có.
+ Về án phí: Bà Bùi Thị S phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà Bùi Thị S khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp nuôi con chung với ông Bùi Văn H có địa chỉ tại tổ 8, phường C, tỉnh Quảng Ngãi. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi.
[1.2] Tại phiên tòa, bà Bùi Thị S có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Bà Bùi Thị S và ông Bùi Văn H tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn, được UBND xã B, huyện B (nay là UBND xã Đ), tỉnh Quảng Ngãi cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 14/3/2016, nên hôn nhân của bà S và ông H là hợp pháp.
Trong quá trình chung sống, bà S và ông H phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do khác biệt quan điểm sống, dẫn đến thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Thấy rằng, bà S và ông H không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc lẫn nhau, phần ai nấy sống, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà S yêu cầu ly hôn ông H là có cơ sở, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà S đối với ông H.
Về nuôi con chung: Bà S và ông H có 01 con chung là cháu Bùi Gia Kh sinh ngày 27/5/2017. Thấy rằng, hiện nay cháu Kh còn nhỏ nên cần có sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ nhiều hơn, cháu Kh cũng đang sống ổn định cùng bà S. Mặt khác, tại Đơn trình bày nguyện vọng ngày 28/11/2025, cháu Kh có nguyện vọng được ở với bà S. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà S, giao cháu Khiêm cho bà S trực tiếp nuôi dưỡng, ông H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà S và ông H đều trình bày không có.
Về nợ chung: Bà S và ông H đều trình bày không có.
Về án phí: Bà S phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về quan hệ hôn nhân, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Quảng Ngãi phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị S.
1. Về hôn nhân: Bà Bùi Thị S được ly hôn ông Bùi Văn H.
2. Về con chung: Giao cháu Bùi Gia Kh, sinh ngày 27/5/2017 cho bà Bùi Thị S trực tiếp nuôi dưỡng, ông Bùi Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông Bùi Văn H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Bà Bùi Thị S và ông Bùi Văn H đều trình bày không có.
4. Về nợ chung: Bà Bùi Thị S và ông Bùi Văn H đều trình bày không có.
5. Về án phí: Bà Bùi Thị S phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0001903 ngày 28/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ngãi. Bà S đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Nguyên đơn vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND khu vực 1 - Quảng Ngãi; - Phòng THADS khu vực 1 - Quảng Ngãi; - UBND xã Đông Sơn (UBND xã Bình Châu, huyện Bình Sơn cũ), tỉnh Quảng Ngãi; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đỗ Quang Hải |