vanban.org

Bản án 09/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Bá V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: Điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Bá V 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Bá V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠCH THÀNH
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HS-ST
Ngày: 18 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Hải

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Văn Thuận

2. Bà Quách Thị Tình

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Trần Văn Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Đỗ Tuấn Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở TAND huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2025/TLST-HS, ngày 21/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:08/2025/QĐXXST-HS, ngày 03/02/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Bá V; sinh ngày: 01/10/2004, tại thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Số CCCD: 038204028495; nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Bá V1 (Đã chết), con bà: Lê Thị T; Vợ con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/10/2024 đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Ông Đinh Công H (Đã chết)

Người đại diện hợp pháp của ông H:

1. Bà Bùi Thị N; sinh năm: 1960 (Vợ ông H)

Địa chỉ: Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

2. Anh Đinh Công H1; sinh năm: 1983 (Con ông H)

Địa chỉ: Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

3. Anh Đinh Công H2 (Con ông H)

Địa chỉ: Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

4. Anh Đinh Công V2; sinh năm: 1992 (Con ông H)

Địa chỉ: Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

5. Anh Đinh Công V3; sinh năm: 1997 (Con ông H)

Địa chỉ: Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

6. Chị Đinh Thị B; sinh năm: 1995 (Con ông H)

Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Bùi Thị N, anh Đinh Công H1, anh Đinh

Công V2, chị Đinh Thị B: Anh Đinh Công V3, sinh năm 1997; Địa chỉ: Thôn Q,

xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Có mặt tại phiên tòa.

-Người làm chứng: Anh Hoàng Văn M, sinh năm: 2004; Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 40 phút ngày 29/8/2024, tại Km 511 + 900 đường H đoạn thuộc thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ giữa xe mô tô BKS: 36B2 - 865.83 do Lê Bá V không có giấy phép lái xe điểu khiển di chuyển theo hướng tỉnh Hòa Bình đi huyện C, tỉnh Thanh Hóa do không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi gặp biển báo nguy hiểm và không chú ý quan sát các phương tiện đang lưu thông trên đường dẫn tới xe mô tô do Lê Bá V điều khiển chở theo sau là anh Hoàng Văn M đã va chạm với xe đạp do ông Đinh Công H điều khiển phía trước cùng chiều làm ông H tử vong.

Sau khi vụ tai nạn giao thông xảy ra, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, kiểm tra nồng độ cồn, ma túy đối với Lê Bá V, Đinh Công H, rà soát camera, truy tìm người làm chứng và trưng cầu phòng K Công an tỉnh T để giám định pháp y tử thi để xác định nguyên nhân chết của ông Đinh Công H, giám định dấu vết cơ học đối với vụ việc tai nạn giao thông, đồng thời trưng cầu V4 Bộ C giám định tỷ lệ tổn thương sức khỏe đối với anh Hoàng Văn M.

Kết quả khám nghiệm tử thi:

Tại bản Kết luận giám định tử thi số 3546/KL-GĐTT-PC09 ngày 26/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Nguyên nhân chết của ông Đinh Công H là chấn thương sọ não.

Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông là một đoạn đường thẳng, bằng, phẳng được rải nhựa thuộc đường H đoạn đi qua thôn Q, xã T, huyện T có độ rộng lòng đường là 720cm, lề đường hai bên có độ rộng lần lượt là 75cm và 50cm. Giữa đường có hệ thống vạch kẻ đường đứt đoạn màu vàng, mỗi vạch có kích thước 300cm x 15cm và cách đều nhau 600cm. Từ hai phía đến hiện trường không có vật cản che khuất tầm nhìn.

Chọn hướng từ tỉnh Hòa Bình đi huyện C làm hướng chuẩn, chọn mép đường bên phải theo hướng chuẩn làm mép chuẩn ký hiệu là A, chọn cột mốc số H9/511 trên lề đường bên phải theo hướng chuẩn làm mốc cố định ký hiệu là B.

Tiến hành ghi nhận các vị trí dấu vết trên hiện trường như sau:

- Vị trí số 1: Xe đạp nằm ngã nghiêng bên phải trên lề đường, đầu xe quay theo hướng chuẩn, đuôi xe quay theo hướng ngược lại, tâm bánh trước xe trùng với A và cách B là 1115cm, tâm bánh sau cách A là 35cm.

- Vị trí số 2: Vết máu loang không rõ hình dạng trên lề đường, tâm vết máu cách A là 27cm, cách tâm bánh sau xe 1 là 73cm.

- Vị trí số 3: Vết cà trượt trên mặt đường có chiều cùng chiều với hướng chuẩn chếch sang phải kích thước 1258cm, điểm đầu vết cách tâm của bánh xe (1) là 507cm và cách A là 152cm, điểm cuối vết cách A là 77cm.

- Vị trí số 4: Xe mô tô BKS: 36B2 - 865.83 nằm ngã nghiêng bên phải trên lề đường, đầu xe quay ngược với hướng chuẩn, đuôi xe quay cùng chiều với hướng chuẩn; tâm bánh trước cách A là 103cm, tâm bánh sau cách A là 53cm. Điểm tiếp xúc giữa đầu giá để chân trước bên phải xe với mặt đường trùng với điểm cuối vết cà trượt số (3).

- Vị trí số 5: Vết trượt trên mặt đường có hướng cùng với hướng chuẩn kích thước 367cm x 9,5cm, điểm đầu vết trùng với A và cách đầu vết (3) là 824cm, điểm cuối vết cách A là 75cm và trùng với hình chiếu điểm thấp nhất của lốp trước mô tô xuống mặt đường, bề mặt vết bám dính chất màu đen dạng cao su.

- Vị trí số 6: Vết trượt trên mặt đường có chiều ngược chiều với hướng chuẩn kích thước 187cm x 13cm, điểm đầu vết cách cuối vết (3) là 119cm và cách A là 16cm, điểm cuối vết cách A là 59cm.

Phương tiện, dấu vết, tài liệu và mẫu vật thu được: 01 xe mô tô BKS: 36B2 - 865.83 và 01 xe đạp.

Kết quả rà soát camera xung quanh khu vực hiện trường: Xác nhận tại hiện trường vụ tai nạn giao thông và khu vực xung quanh không có camera nào ghi lại nội dung vụ việc.

Rà soát biển báo ghi nhận:

Từ hai phía đến hiện trường không có vật cản che khuất tầm nhìn, cách 4800cm đến hiện trường bên phải theo hướng từ tỉnh Hòa Bình đi huyện C có biển báo nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên, cách hiện trường 3000cm về bên phải theo hướng Hòa Bình đi huyện C có 01 ngã rẽ vào khu dân cư thuộc thôn Q, xã T, huyện T.

Kết quả giám định cơ chế hình thành dấu vết cơ học:

Tại bản Kết luận giám định số 3582/KL-KTHS ngày 01/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

1. Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện: Cạnh bên phải vành trước, má phải lốp trước (tương ứng trên hàng chữ số "30P2" trên cạnh vành) xe môtô BKS: 36B2

- 865.83 (ảnh 5 đến 8) với mặt dưới ngoài bên trái chân chống đứng (chân chống trạng thái treo) xe đạp (ảnh 19 đến 22).

2. Tại thời điểm xảy ra va chạm hai phương tiện chuyển động cùng chiều. Xe môtô BKS: 36B2 - 865.83 ở bên trái và có vận tốc lớn hơn so với xe đạp.

3. Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm trước đầu vết cà trượt số (3) được thể hiện trong biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường, thuộc phần đường dành cho xe cơ giới chiều từ tỉnh Hòa Bình đi huyện C, tỉnh Thanh Hóa.

4. Không đủ cơ sở xác định tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra va chạm.

Kết quả kiểm tra nồng độ cồn, ma túy:

Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong khí thở đối với Lê Bá V là: 0,074mg/1 khí thở. Bị cáo Lê Bá V không đồng ý với kết quả trên và khẳng định: “Trong vòng khoảng 01 tháng trước khi xảy ra vụ tai nạn giao thông trên V không sử dụng rượu bia, chất ma túy hay bất kỳ chất kích thích nào khác”. Ngay sau đó, Lê Bá V được đưa đi xét nghiệm cồn trong máu tại Bệnh viện đa khoa huyện T và thu giữ mẫu máu để trưng cầu giám định. Kết quả xét nghiệm cồn trong máu, xét nghiệm ma túy đối với Lê Bá V tại Bệnh viện đa khoa huyện T đều cho ra kết quả: âm tính. Tại bản Kết luận giám định số 3387/KL-KTHS ngày 17/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Không tìm thấy cồn trong mẫu máu của Lê Bá V.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Lê Bá V khai nhận: Vào khoảng 18 giờ 40 phút ngày 29/8/2024, V điều khiển xe mô tô BKS: 36B2 - 865.83, chở theo phía sau là anh Hoàng Văn M lưu thông theo hướng tỉnh Hòa Bình đi huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Khi đi đến Km 511 + 900 đường H đoạn thuộc thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, do không chú ý quan sát nên đã va chạm với xe đạp do ông Đinh Công H đi phía trước cùng chiều. Hậu quả, ông Đinh Công H bị thương được đưa đi cấp cứu tại các cơ sở y tế đến ngày 30/8/2024 tử vong như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKSTT, ngày 20/01/2025, Viện Kiểm sát nhân dân (sau đây viết tắt là VKSND) huyện T, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Lê Bá V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự (sau đây viết tắt là BLHS).

Tại phiên tòa Đại diện VKSND giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Bá V 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Bá V cùng gia đình đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình người bị hại xong. Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, đại diện VKS đề nghị không xem xét.

*Phần tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX) xem xét đến hoàn cảnh gia đình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo để bị cáo có cơ hội cải tạo và được tiếp tục học tập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội: Vào khoảng 18 giờ 40 phút ngày 29/8/2024, tại Km 511 + 900 đường H đoạn thuộc thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa Lê Bá V điều khiển mô tô BKS: 36B2 - 865.83 di chuyển theo hướng tỉnh Hòa Bình đi huyện C, tỉnh Thanh Hóa do không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi gặp biển báo nguy hiểm và không chú ý quan sát các phương tiện đang lưu thông trên đường dẫn tới xe mô tô do Lê Bá V điều khiển đã va chạm với xe đạp do ông Đinh Công H điều khiển phía trước cùng chiều làm ông H tử vong, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ; khoản 9, khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ năm 2008; khoản 1 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ; điểm b khoản 7 Điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt. Bản thân V khi điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe theo quy định. Do đó, hành vi của Lê Bá V cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng mà VKSND huyện Thạch Thành truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

. Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong khí thở đối với Lê Bá V là: 0,074mg/1 khí thở. Bị cáo Lê Bá V không đồng ý với kết quả trên và khẳng định: “Trong vòng khoảng 01 tháng trước khi xảy ra vụ tai nạn giao thông trên V không sử dụng rượu bia, chất ma túy hay bất kỳ chất kích thích nào khác”. Ngay sau đó, Lê Bá V được đưa đi xét nghiệm cồn trong máu tại Bệnh viện đa khoa huyện T và thu giữ mẫu máu để trưng cầu giám định. Kết quả xét nghiệm cồn trong máu, xét nghiệm ma túy đối với Lê Bá V tại Bệnh viện đa khoa huyện T đều cho ra kết quả: âm tính. Tại bản Kết luận giám định số 3387/KL-KTHS ngày 17/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Không tìm thấy cồn trong mẫu máu của Lê Bá V. Do đó, không đủ căn cứ để xử lý bị cáo theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

. Về tính chất của vụ án: Hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng, xâm phạm đến trật tự, an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần xét xử bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm tuyên truyền, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của người dân khi tham gia giao thông.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Bá V đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” về hành vi phạm tội của bản thân, sau khi phạm tội đã “tích cực thăm hỏi, bồi thường xong phần dân sự” cho gia đình bị hại, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, đại diện bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo có ông ngoại là thương binh, người có công với cách mạng, trong quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo tích cực tham gia đóng góp, ủng hộ và được xác nhận bởi chính quyền địa phương nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Mặc dù bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng nhưng là lỗi vô ý. Gia đình bị cáo hoàn cảnh rất khó khăn, bố bị cáo đã chết mẹ bị cáo đang phải nuôi bị cáo và một em nhỏ còn đi học. Bản thân bị cáo hiện đang là sinh viên và đang học năm thứ 3 tại đại học C1. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần cho hưởng án treo cũng đủ sức răn đe đối với bị cáo, đồng thời cũng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Bá V cùng gia đình đã bồi thường, hỗ trợ thiệt hại cho gia đình người bị hại với số tiền 57.000.000đ (năm mươi bảy triệu đồng). Đại diện gia đình bị hại không yêu cầu, đề nghị gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Đối với 01 xe mô tô BKS: 36B2 - 865.83, quá trình điều tra xác minh xác định nguồn gốc xe mô tô này là của anh Lê Bá D sinh năm 1991, trú tại khu phố T, thị trấn Q, huyện Y là chủ sở hữu. Năm 2019 anh Lê Bá D cho em trai là anh Lê Bá T1 quản lý, sử dụng. Đến tháng 02/2024, V đã đến xin được trao đổi xe để đi học ngoài Hà Nội và được anh Lê Bá T1 đồng ý cho mượn xe. Thời điểm T1 cho V mượn xe là lúc V đã 20 tuổi, T1 không biết việc Lê Bá V không có Giấy phép lái xe theo quy định pháp luật. Vì vậy không có căn cứ xác định lỗi “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông” đối với anh Lê Bá T1.

. Về việc Hoàng Văn M đổi lái với bị cáo V: Trước thời điểm xảy ra vụ tai nạn giao thông, M là người điều khiển điều khiển xe mô tô BKS: 36B2 - 865.83 (M đã có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định). Sau khi đổ xăng tại cây xăng thuộc địa phận tỉnh Hòa Bình, Lê Bá V đề nghị đổi lái nên anh Hoàng Văn M đã giao xe mô tô BKS: 36B2 - 865.83 cho Lê Bá V điều khiển để đi về nhà. Tại thời điểm đổi lái xe, M không biết việc Lê Bá V không có Giấy phép lái xe theo quy định pháp luật. Vì vậy không có căn cứ xác định lỗi “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông” đối với anh Hoàng Văn M. [10]. Đối với thương tích của anh Hoàng Văn M: Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định xác định tỷ lệ tổn hại sức khỏe do tai nạn giao thông gây nên. Tuy nhiên, Hoàng Văn M chỉ bị xây xước nhẹ, không phải đi điều trị tại bất cứ cơ sở y tế nào nên đã có đơn xin từ chối giám định thương tích và không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Bá V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: Điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Bá V 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lê Bá V cho Ủy ban nhân dân thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92, Điều 68 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Điều 6, Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Bị cáo Lê Bá V phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo và người đại diện hợp pháp của người bị hại. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ