vanban.org

Bản án 09/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 09/09/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lò Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Lò Văn N 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 13/5/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Lường Văn N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 – SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_________
Bản án số: 09/2025/HS-ST
Ngày 09/9/2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Cầm Ngọc Thương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cầm Bun Ly và ông Bùi Nguyên Hồng.

- Thư ký phiên toà: Ông Hà Văn Yến, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Sơn La tham gia phiên toà: Bà Tường Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 8 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo:

Lò Văn N, sinh ngày 26/10/1998, tại xã M, tỉnh Sơn La. Căn cước công dân số 0140980057XX do Cục CSQLHC về TTXH cấp ngày 26/03/2025; nơi đăng ký HKTT và nơi ở: Bản H, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La (Nay là Bản H, xã M, tỉnh Sơn La); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 8/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Lò Văn L, sinh năm 1977; con bà Lò Thị P, sinh năm 1974; bị cáo có vợ: Lò Thị N, sinh năm 2004, bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2020, con nhỏ nhất sinh năm 2025.

Tiền án: Không.

Tiền sự Ngày 17/5/2022, Lò Văn N bị Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng. Chấp hành xong ngày 17/5/2024.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/5/2025 đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 13/5/2025, Lò Văn N đi bộ từ nhà ở bản H, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La (nay là bản H, xã M, tỉnh Sơn La) đến bản N, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La (nay là bản N, xã M, tỉnh Sơn La) để tìm mua ma túy về sử dụng, khi đến khu vực bản N, xã C, huyện M, Lò Văn N gặp và mua được của một người phụ nữ dân tộc Mông (không biết tên, địa chỉ), 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa Heroine với giá 200.000 VNĐ. Nam cầm gói Heroine ở tay phải và đi bộ về nhà. Khi đến gần nhà, Nam cho gói ma túy vào miệng ngậm, khi thấy Tổ công tác làm nhiệm vụ, Nam sợ bị Tổ công tác phát hiện nên đã nuốt gói ma túy trên thì bị Tổ công tác đưa về trụ sở Công an xã Cò Nòi để làm việc. Đến 17 giờ 25 phút cùng ngày, Nam nôn ra 01 gói nilon màu xanh và tự giác giao nộp cho tổ công tác.

Ngày 13/5/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La đã phối hợp với Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Sơn La thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, xác định khối lượng vật chứng thu giữ của Lò Văn N:

Tổng khối lượng chất bột nén màu trắng là 0,42 gam, trích rút toàn bộ làm mẫu ký hiệu M trưng cầu giám định.

Tại kết luận giám định số: 561/KL- KTHS ngày 19/5/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu M là ma túy, loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là M = 0,42 gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,42 gam, loại Heroine.

Bản cáo trạng số: 10/CT-VKSKV4 ngày 24 tháng 8 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Sơn La truy tố bị cáo Lò Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố Lò Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Tuyên bố Lò Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Lò Văn N từ 30 tháng đến 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Không áp dụng hình phạt bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Đối với 01 phong bì thư do Công an tỉnh Sơn La phát hành, đã được niêm phong dán kín, một mặt phong bì thư ghi chữ : “Vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu và mảnh nilon màu xanh, mảnh nilon trắng gói ma túy ban đầu thuộc vụ Lò Văn N có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 13/05/2025 tại xã C, huyện M, tỉnh Sơn La” là tài liệu có giá trị chứng minh tội phạm cần lưu theo hồ sơ vụ án.

3. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo có lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ mức hình phạt và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Công an xã C, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Lò Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan Điều tra. Số ma túy bị thu giữ ngày 13/5/2025 có nguồn gốc do bị cáo mua được của một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết với giá 200.000 VNĐ, mục đích sử dụng cho bản thân.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản làm việc lập hồi 16 giờ 30 phút, ngày 13/5/2025; biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an xã C (nay là xã M) lập vào hồi 17 giờ 30 phút, ngày 13/05/2025; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong, cân tịnh, trích rút mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng; bản Kết luận giám định số 561 ngày 19/5/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận là ma túy, loại Heroine. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ của cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ.

Có đủ căn cứ xác định hành vi trên của Lò Văn N đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Hành vi của Lò Văn N đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Cáo trạng số 10/CT-VKSKV4 ngày 24/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Sơn La truy tố đối với bị cáo là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho bị cáo.

Về khung hình phạt áp dụng: Bị cáo Lò Văn N tàng trữ 0,42 gam Heroine đích để sử dụng. Do đó hành vi của Nam đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 86/2025/QH15 năm 2025 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2025, có mức hình phạt tù từ 03 năm đến 05 năm. Do đó, áp dụng quy định có lợi cho bị cáo thì áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, nhận thức được việc tàng trữ nhằm mục đích sử dụng chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật để phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, vì lẽ đó khi lượng hình cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt cần xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện chất ma tuý và 01 lần bị Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24. Chấp hành xong ngày 17/5/2024.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo và vợ con của bị cáo chung sống cùng với bố mẹ, không có tài sản riêng, không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng, xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì thư do Công an tỉnh Sơn La phát hành, đã được niêm phong dán kín, một mặt phong bì thư ghi chữ : “Vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu và mảnh nilon màu xanh, mảnh nilon trắng gói ma túy ban đầu thuộc vụ Lò Văn N có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 13/05/2025 tại xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La” là tài liệu có giá trị chứng minh tội phạm cần lưu theo hồ sơ vụ án.

Về các vấn đề khác:

Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ: Lò Văn N khai mua của người phụ nữ không quen biết tại bản Nong Mòn, Xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La (nay là bản Nong Mòn, xã Mai Sơn, tỉnh Sơn La) với giá 200.000VNĐ (việc mua bán không có ai biết và chứng kiến). Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La không có căn cứ để điều tra, xác minh mở rộng vụ án. Buộc Lò Văn N phải chịu trách nhiệm hình sự về khối lượng 0,42 gam Heroine bị thu giữ trong vụ án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

8 Thời hạn tạm giam của bị cáo còn dưới 45 ngày do đó Hội đồng xét xử ra Quyết định tạm giam đối với bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Lò Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Lò Văn N 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 13/5/2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Đối với 01 phong bì thư do Công an tỉnh Sơn La phát hành, đã được niêm phong dán kín, một mặt phong bì thư ghi chữ : “Vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu và mảnh nilon màu xanh, mảnh nilon trắng gói ma túy ban đầu thuộc vụ Lò Văn N có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy xảy ra ngày 13/05/2025 tại xã Cò Nòi, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La” là tài liệu có giá trị chứng minh tội phạm cần lưu theo hồ sơ vụ án.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lò Văn N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên.

Cỡ chữ