vanban.org

Bản án 09/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La, tỉnh Sơn La Tuyên án 13/08/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Tráng Chứ V phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Tráng Chứ V 11 (Mười một) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 17/12/2024 . Không áp dụng hình phạt bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tráng Chứ V - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Tráng Chứ V phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị định số 19/2018/NĐ-CP Quy định về việc tính tổng khối l…; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_________
Bản án số: 09/2025/HS-ST
Ngày 13-8-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - TỈNH SƠN LA

Tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - Sơn La.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trung Kiên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quàng Văn Tiện và bà Cầm Thị Tươi.

- Thư ký phiên toà: Bà Tòng Thị Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 tham gia phiên toà: Bà Lò Thị Thanh - Kiểm sát viên

Tại điểm cầu thành phần phân trại tại giam khu vực Sông Mã – Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La.

- Kiểm sát viên: Ông Lầu Bá Khải.

- Người tham gia tố tụng khác:

Cán bộ, chiến sĩ thuộc phân trại tại giam khu vực Sông Mã – Công an tỉnh Sơn La: Ông Lò Văn Phương, ông Lò Văn Sáng.

Ngày 13 tháng 8 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La và điểm cầu thành phần phân trại tại giam khu vực Sông Mã – Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:

Tráng Chứ V, sinh ngày 16 tháng 3 năm 1977, tại xã N, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản N, xã M, tỉnh Sơn La (trước đây là bản N, xã Đ, huyện S, tỉnh Sơn La); nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá: 01/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tráng Tộng T và bà Giàng Thị S; bị cáo có vợ là Giàng Thị S và có 04 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 02/02/2016 Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xử phạt 05 năm tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích); bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2024 đến nay. Tham gia phiên toà tại điểm cầu thành phần. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 06 giờ 45 phút ngày 17/12/2024 tổ công tác Công an xã Đứa Mòn làm nhiệm vụ tại khu vực bản N, xã Đ, huyện S, tỉnh Sơn La (cũ), qua kiểm tra hành chính về ma túy với Tráng Chứ V (Có lý lịch nêu trên) đã phát hiện Tráng Chứ V đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 01 gói nilon màu xanh có chứa 100 viên nén hình tròn màu hồng, 01 lọ nhựa màu trắng có chứa 27 viên nén hình tròn màu hồng và 01 lọ nhựa màu trắng bên trong có 01 gói nilon màu trắng chứa chất bột liên kết màu trắng. Tráng Chứ V khai nhận các viên nén hình tròn màu hồng là Methamphetamine, chất bột liên kết màu trắng là Heroine cất giấu nhằm mục đích sử dụng và bán kiếm lời.

Tổ công tác đã lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng, dẫn giải Tráng Chứ V về Công an huyện Sông Mã để điều tra làm rõ, tạm giữ của Tráng Chứ V 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, số IMEI1: 866067061058998, số IMEI2: 866067061058980.

Ngày 18/12/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã đã tiến hành mở niêm phong, xác định số lượng, khối lượng số ma túy thu giữ của Tráng Chứ V, kết quả: 127 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 12,76 gam, lấy 05 viên có khối lượng 0,51 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu “V”. Chất bột liên kết màu trắng có tổng khối lượng 4,60 gam, lấy 0,24 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu “V1”. Cơ quan Công an huyện Sông Mã ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.

Tại kết luận giám định số: 58 ngày 21/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu V là ma túy, loại chất Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,51 gam. Mẫu gửi giám định ký hiệu V1 là ma túy, loại Heroine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,24 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 12,76 gam loại Methamphetamine và 4,60 gam loại Heroine

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Tráng Chứ V khai nhận: Bản thân nghiện chất ma túy. Khoảng ngày 02/12/2024 trên đường đi làm nương về Tráng Chứ V gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết, V hỏi mua ma túy nhưng người này bảo không có đồng thời cho V một số điện thoại (đầu số mạng Viettel) bảo cần mua ma túy thì gọi cho số này, V lưu số điện thoại vào danh bạ rồi đi về, đến nhà V gọi vào số điện thoại vừa lưu thấy có một người đàn ông nghe máy, trong quá trình nói chuyện người này tự giới thiệu nhà ở khu vực gần thị trấn Sông Mã cũ nhưng không nói rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, V đặt vấn đề mua của người đàn ông này 3.000.000đ tiền Hồng phiến và 2.000.000đ tiền Heroine mục đích để sử dụng và bán kiếm lời và hẹn gặp nhau tại ngã ba đường rẽ vào bản N, xã Đ, huyện S, tỉnh Sơn La cũ (nay là bản N, xã M, tỉnh Sơn La) cách nhà V khoảng 01 km, người đàn ông đồng ý. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày người đàn ông dân tộc Mông đến chỗ hẹn và gọi điện cho V ra lấy ma tuý, V mang theo số tiền 5.000.000đ (là tiền do lao động tiết kiệm mà có), đến chỗ hẹn V nhìn thấy có một người đàn ông dân tộc Mông đang đứng ở ven đường, V đến gần hỏi và biết là người mang ma tuý đến bán, người đàn ông đưa cho V 01 túi nilon màu xanh bên trong có 150 viên Hồng phiến và 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa Heroine, V nhận ma tuý rồi lấy số tiền 5.000.000đ đưa cho người này, mua bán xong V quay về nhà rồi xoá số điện thoại của người đàn ông dân tộc Mông, sau đó V chia túi Hồng phiến làm 02 phần, một phần V cho vào trong một lọ nhựa màu trắng, một phần V vẫn để trong túi nilon màu xanh ban đầu, còn gói Heroine V cho vào trong một lọ nhựa màu trắng khác và để trong kho chứa rơm của gia đình (là nơi ngủ của V), hàng ngày V trích một ít Heroine trộn với Hồng phiến sử dụng. Đến khoảng 06 giờ 30 phút ngày 17/12/2024 khi V đang ở trong kho chứa rơm của gia đình thì tổ công tác Công an xã Đ đến để test thử ma tuý, quá trình làm việc V đã lấy số ma tuý còn lại ra giao nộp cho tổ công tác, tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng.

Bản cáo trạng số: 09/CT-VKS-KV3 ngày 21 tháng 7 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 truy tố bị cáo Tráng Chứ V về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 giữ nguyên quan điểm truy tố Tráng Chứ V về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Tuyên bố Tráng Chứ V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Tráng Chứ V từ 11 năm đến 11 năm 06 tháng tù;

Không áp dụng hình phạt bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu và tiêu huỷ: 01 phong bì thư do Công an tỉnh Sơn La phát hành đã được niêm phong kín. Mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng lưu kho vụ: Tráng Chứ V; sinh năm 1977; Nơi thường trú: Bản N, xã Đ, huyện S, tỉnh Sơn La. Hành vi Mua bán trái phép chất ma túy. Gồm 01 túi nilon màu xanh ban đầu chứa vật chứng lưu kho ký hiệu L = 12,25 gam nghi là Hồng phiến; 01 túi nilon màu trắng chứa vật chứng lưu kho ký hiệu L1 = 4,36 gam nghi là Heroine, 02 lọ nhựa màu trắng, 01 túi nilon màu xanh và 01 túi nilon màu trắng”.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh, có số IMEI1: 866067061058998, số IMEI2: 866067061058980 (đã qua sử dụng cũ).

3. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tình tiết định tội: Tại phiên toà bị cáo Tráng Chứ V thừa nhận: Ngày 17/12/2024 Tráng Chứ V đã thực hiện hành vi cất giấu trái phép 12,76 gam Methamphetamine và 4,60 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng và bán kiếm lời.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Căn cứ Điều 4 Chương II Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015, thì tổng khối lượng 02 chất ma túy là Heroine và Methamphetamine thu giữ của Tráng Chứ V là 4,60 gam + 12,76 gam = 17,36 gam.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Tráng Chứ V đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, do nghiện ma túy và hám lợi bất chính nên bị cáo đã thực hiện tội phạm. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do vậy cần xem xét cân nhắc xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo. Việc cách ly bị cáo một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có thể đảm bảo được điều kiện và thời gian để bị cáo cải tạo, giáo dục trở thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa giáo dục chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện chất ma túy. Ngày 02/02/2016 đã bị Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xử phạt 05 năm tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/10/2019, chấp hành xong án phí HSST ngày 02/02/2016 (đã được xóa án tích).

Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên tòa thấy rằng bị cáo không có tài sản nên không phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo theo quy định của khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 phong bì thư do Công an tỉnh Sơn La phát hành đã được niêm phong kín. Mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng lưu kho vụ: Tráng Chứ V; sinh năm 1977; Nơi thường trú: Bản N, xã Đ, huyện S, tỉnh Sơn La. Hành vi Mua bán trái phép chất ma túy. Gồm 01 túi nilon màu xanh ban đầu chứa vật chứng lưu kho ký hiệu L = 12,25 gam nghi là Hồng phiến; 01 túi nilon màu trắng chứa vật chứng lưu kho ký hiệu L1 = 4,36 gam nghi là Heroine, 02 lọ nhựa màu trắng, 01 túi nilon màu xanh và 01 túi nilon màu trắng”. Là vật nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh, có số IMEI1: 866067061058998, số IMEI2: 866067061058980 (đã qua sử dụng cũ), là tài sản của bị cáo, bị cáo sử dụng làm công cụ dùng vào việc thực hiện tội phạm. Do đó cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước

Các vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với người đàn ông đã cho bị cáo số điện thoại để hỏi mua ma tuý và người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma tuý cho bị cáo như bị cáo khai. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của những người này do đó không có căn cứ để điều tra xử lý.

Đối với số điện thoại bị cáo dùng để liên lạc mua ma tuý, ngày 10/02/2025 và ngày 05/4/2025 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Sơn La đã có công văn đề nghị Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông quân đội Viettel cung cấp thông tin về chủ thuê bao, lịch sử chi tiết gọi đi, gọi đến, lịch sử chi tiết tin nhắn đi, tin nhắn đến đối với số điện thoại bị cáo sử dụng là 0396654216 thời gian từ ngày 01/12/2024 đến ngày 05/12/2024. Sau khi có báo cáo chi tiết thông tin chủ thuê bao, lịch sử liên lạc của số thuê bao 0396654216 do Tập đoàn Viettel cung cấp. Xác định số thuê bao trên đăng ký mang tên Bạc Cầm D, sinh năm 1964, trú tại: Bản M, xã M, tỉnh Sơn La. Quá trình điều tra D không đăng ký và sử dụng số thuê bao trên, bản thân cũng không biết V, cơ quan CSĐT đã cho bị cáo tiến hành nhận diện số điện thoại của người bán ma túy cho bị cáo, kết quả bị cáo không nhận diện được số điện thoại của người bán ma túy, do đó không có căn cứ để điều tra xử lý, mở rộng vụ án.

Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên toà bị cáo có ý kiến đề nghị xin được miễn án phí. Do đó cần miễn án phí hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Xét thời hạn tạm giam của bị cáo còn dưới 45 ngày nên cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: bị cáo Tráng Chứ V phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Tráng Chứ V 11 (Mười một) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 17/12/2024 .

Không áp dụng hình phạt bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu và tiêu huỷ: 01 phong bì thư do Công an tỉnh Sơn La phát hành đã được niêm phong kín. Mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng lưu kho vụ: Tráng Chứ V; sinh năm 1977; Nơi thường trú: Bản N, xã Đ, huyện S, tỉnh Sơn La. Hành vi Mua bán trái phép chất ma túy. Gồm 01 túi nilon màu xanh ban đầu chứa vật chứng lưu kho ký hiệu L = 12,25 gam nghi là Hồng phiến; 01 túi nilon màu trắng chứa vật chứng lưu kho ký hiệu L1 = 4,36 gam nghi là Heroine, 02 lọ nhựa màu trắng, 01 túi nilon màu xanh và 01 túi nilon màu trắng”.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh, có số IMEI1: 866067061058998, số IMEI2: 866067061058980 (đã qua sử dụng cũ).

Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/7/2025 giữa Công an tỉnh Sơn La và phòng thi hành án dân sư khu vực 3 – Sơn La.

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 13/8/2025.

Cỡ chữ