vanban.org

Bản án 09/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lăk, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 18/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Xuân H phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Trịnh Xuân H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam, ngày 07/01/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh Xuân H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? * Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Xuân H phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẮK
TỈNH ĐẮK LẮK
ơ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HS-ST
Ngày 18/4/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Văn Công Cường.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ma Văn Hoàn;

2. Bà Nguyễn Thị Vui.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 4 năm 2025, tại phòng xử án của trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 06/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2025 đối với:

Bị cáo: Trịnh Xuân H (tên gọi khác: C), sinh ngày 18/3/1994, tại huyện L, tỉnh Đắk Lắk.

Nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trịnh Xuân N, sinh năm 1959 (đã chết) và bà Chu Thị T, sinh năm 1962; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: 01 tiền án về tội mua bán trái phép chất ma túy; tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 07/01/2025 tại Cơ sở Giam giữ Công an tỉnh Đắk Lắk-Phân trại tạm giam khu vực huyện L cho đến nay, có mặt.

- Người chứng kiến: Ông Phan Đình T, sinh năm 1965, cư trú tại: Tổ dân phố T, thị Trấn L, huyện L, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 06/01/2025 Trịnh Xuân H đi bộ từ nhà của mình ở tổ dân phố Đ đến khu vực trước sân vận động huyện L thuộc tổ dân phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đắk Lắk đón xe ôtô taxi màu xanh (chưa rõ biển kiểm soát, hãng taxi) đang dừng đỗ bên đường trước sân vận động huyện L lên thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để mua ma tuý về sử dụng. Đến khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, Hùng đi đến cuối đường T thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk thì H yêu cầu tài xế xe ôtô taxi dừng lại và nói “đợi một tý sẽ quay lại” rồi H xuống xe đi bộ khoảng 50 mét thì gặp một người đàn ông tên T (chưa rõ nhân thân lai lịch cụ thể) là người mà H đã từng mua vài lần ma tuý trước đó rồi H mua 01 gói ma tuý đá của người này với số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) để về sử dụng. Sau khi mua ma túy xong H cất giấu vào trong lòng bàn tay phải rồi đi bộ đến chỗ xe ôtô taxi và lên xe về lại thị trấn L, huyện L, tỉnh Đắk Lắk.

Đến khoảng 00 giờ 10 phút ngày 07/01/2025 xe taxi chở Trịnh Xuân H đi đến khu vực ngã ba đầu đường  (gần nhà nghỉ Môi trường) thuộc tổ dân phố 2, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đắk Lắk thì H xuống xe đi bộ và tìm nơi vắng người để sử dụng ma tuý thì gặp tổ công tác thuộc Đội cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế và ma tuý Công an huyện L phối hợp với Công an thị trấn L tiến hành kiểm tra thì Trịnh Xuân H đã thả 01 (một) gói nilon hình chữ nhật được hàn kín các cạnh màu trắng có một đường chỉ màu đỏ ở sát cạnh gần bên ngoài của mép hàn kín, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (nghi là chất ma tuý) mà H đang cất giữ trong lòng bàn tay phải xuống mặt đường nhựa ở dưới chân trước mặt của H. Quá trình làm việc, Trịnh Xuân H khai nhận chất tinh thể màu trắng là chất ma túy đá (loại Methamphetamine) được H mua của một người đàn ông tên T (chưa rõ nhân thân lai lịch cụ thể) ở cuối đường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk mục đích để sử dụng nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ các tang vật.

Ngày 07/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L Quyết định trưng cầu giám định đến Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk để giám định chất ma túy đối với chất tinh thể màu trắng mà H đã thả từ trong lòng bàn tay phải xuống mặt đường.

Tại kết luận giám định số 185/KL-KTHS ngày 13/01/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) gói nilon được hàn kín ở các cạnh màu trắng, có một đường chỉ màu đỏ ở sát cạnh gần hàn kín được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,6050 gam, loại Methamphetamine, còn lại sau giám định có khối lượng là 0,5653 gam.

Về vật chứng đã thu giữ và kết quả xử lý vật chứng của vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã thu giữ các vật chứng, gồm:

- 01 (một) gói nilon hình chữ nhật được hàn kín các cạnh màu trắng, có một đường chỉ màu đỏ ở sát cạnh gần bên ngoài của mép hàn kín, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng được thu giữ trên mặt đường Âu Cơ do Trịnh Xuân H thả xuống mặt đường (đã được niêm phong vào bì thư và gửi đến Phòng PC09 Công an tỉnh Đắk Lắk giám định). Kết quả giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,6050 gam, loại Methamphetamine, khối lượng còn lại sau giám định 0,5653 gam.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo1901, số Emei: 860062048635386, số sim: 0947353347. Kết quả điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Trịnh Xuân H, không sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội.

Đối với chiếc xe ôtô taxi màu xanh (chưa rõ biển kiểm soát, hãng taxi) và người điều khiển xe mà Trịnh Xuân H đón lên thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để ma ma tuý của người đàn ông tên T ở cuối đường T. Kết quả điều tra xác minh Chi nhánh hãng xe taxi Thịnh Phát huyện L vào các ngày 06, 07/01/2025 thì không có lái xe hay xe taxi nào có đặc điểm thông tin phù hợp, không xác định được nhân thân người điều khiển xe nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L không đề cập xử lý.

Quá trình điều tra, xác minh Trịnh Xuân H đã có 01 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2018/HS-ST ngày 22/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk, tuyên phạt 08 năm tù giam, chấp hành hình phạt tù tại trại giam Đắk Trung, tỉnh Đắk Lắk. Đến ngày 30/01/2024 Trịnh Xuân H chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống tại tổ dân phố Đ, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đắk Lắk nhưng đến thời điểm thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (ngày 07/01/2025) Trịnh Xuân H chưa được xóa án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý. Tuy nhiên quá trình điều tra Trịnh Xuân H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định chất ma tuý, các vật chứng đã thu giữ và các tài liệu chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 28 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk truy tố bị cáo về tội: “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng với diễn biến sự việc mà Cáo trạng đã truy tố và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo Cáo trạng là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị HĐXX: Tuyên bố bị cáo Trịnh Xuân H phạm tội: “tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trịnh Xuân H mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam, ngày 07/01/2025.

Đối với đối tượng là người đàn ông tên T (không rõ họ tên, địa chỉ) là người đã có hành vi bán chất ma túy cho Trịnh Xuân H. Do quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chưa xác minh được nhân thân, họ tên, địa chỉ của đối tượng nên không có căn cứ để xử lý.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 và 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị:

- Tịch thu tiêu hủy 0,5653 gam chất ma túy 01 (một) gói nilon hình chữ nhật được hàn kín các cạnh màu trắng, có một đường chỉ màu đỏ ở sát cạnh gần bên ngoài của mép hàn kín.

- Trả lại 01 điện thoại di dộng hiệu Vivo1901, số Emei: 860062048635386, số sim: 0947353347 cho Trịnh Xuân H vì không sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, qua đó có đủ căn cứ kết luận: Do ý thức coi thường pháp luật và để thỏa mãn nhu cầu sử dụng chất kích thích nên vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 06/01/2025 bị cáo Trịnh Xuân H đi bộ từ tổ dân phố Đoàn Kết, thị trấn L, huyện L đến khu vực trước sân vận động huyện L đón xe ôtô taxi lên thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để mua ma tuý về sử dụng. Đến khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, khi đi đến cuối đường T thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk H xuống xe đi bộ khoảng 50 mét thì gặp một người đàn ông tên T (chưa rõ nhân thân lai lịch cụ thể) mua 01 gói ma tuý đá của người này với số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) để về sử dụng. Sau khi mua xong xe taxi chở H về đường Â, tổ dân phố 2, thị trấn L, huyện L rồi H đi bộ và tìm nơi vắng người để sử dụng ma túy thì bị Công an huyện L kiểm tra bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật. Như vậy, việc Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ pháp luật.

Điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mực đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

c) Heroin, Cocaine, Methamphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”

Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý Nhà nước về các chất ma túy mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Bị cáo tuổi đời còn trẻ, là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là pháp luật nghiêm cấm, nếu vi phạm thì bị xử lý theo quy định, bị cáo đã từng bị một tiền án liên quan đến ma túy vào năm 2018 thế nhưng để đáp ứng nhu cầu cá nhân bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy một cách liều lĩnh, thể hiện sự coi thường pháp luật. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm minh nhằm răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời tiếp tục phòng ngừa chung trong đời sống xã hội về loại tội phạm này.

Tuy nhiên, xét quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên khi quyết định hình phạt HĐXX xem xét cho bị cáo.

Đối với người đàn ông tên T không rõ họ tên, địa chỉ, là người đã có hành vi bán chất ma túy cho bị cáo H. Do quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chưa xác minh được nhân thân, họ tên, địa chỉ của đối tượng nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với chiếc xe ôtô taxi màu xanh (chưa rõ biển kiểm soát, hãng taxi) và người điều khiển xe mà Trịnh Xuân H đón lên thành phố B để ma ma tuý của người đàn ông tên T ở cuối đường T. Kết quả điều tra xác minh Chi nhánh hãng xe taxi Thịnh Phát huyện L vào các ngày 06, 07/01/2025 thì không có lái xe hay xe taxi nào có đặc điểm thông tin phù hợp, không xác định được nhân thân người điều khiển xe nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L không đề cập xử lý nên không có cơ sở để xem xét.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 và 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015, xét thấy:

Đối với 0,5653 gam chất ma túy 01 (một) gói nilon hình chữ nhật được hàn kín các cạnh màu trắng, có một đường chỉ màu đỏ ở sát cạnh gần bên ngoài của mép hàn kín là vật chứng do bị cáo chuẩn bị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di dộng hiệu Vivo1901, số Emei: 860062048635386, số sim: 0947353347 của bị cáo Hùng là tài sản không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.

Đối với phát biểu và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, HĐXX xét thấy là phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra nên được chấp nhận.

Đối với các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đều đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định đã thực hiện đều hợp pháp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trịnh Xuân H phạm tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Về hình phạt:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Trịnh Xuân H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam, ngày 07/01/2025.

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 và 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 0,5653 gam chất ma túy 01 (một) gói nilon hình chữ nhật được hàn kín các cạnh màu trắng, có một đường chỉ màu đỏ ở sát cạnh gần bên ngoài của mép hàn kín.

- Trả lại cho bị cáo Trịnh Xuân H 01 điện thoại di dộng hiệu Vivo1901, số Emei: 860062048635386, số sim: 0947353347

(Các vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 28 tháng 02 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L với Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Đắk Lắk).

* Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và danh mục án phí lệ phí Tòa án ban hành theo Nghị quyết, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ