vanban.org

Bản án 09/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H đối với bị đơn ông Nguyễn Xuân Th3 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Xuân Th3. Về con chung: Bà Lê Thị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Nguyễn Lê Hoàng P, sinh ngày 02/7/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "H1-T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H đối với bị đơn ông Nguyễn Xuân Th3 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 08 - 01 - 2025
V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Tố U

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Tuý P

2. Bà Phạm Thị Thu Y

- Thư ký phiên toà: Bà Lê H – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa: Bà Mai T– Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 628/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 87/2024/QĐ-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1976; địa chỉ thường trú: Thôn D, xã Th huyện Th1, tỉnh Th2; tạm trú: Ô x, TĐCy, đường z, khu phố s, phường An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân Th3, sinh năm 1973; địa chỉ thường trú: Thôn D, xã Th huyện Th1, tỉnh Th2; tạm trú: Ô x, TĐCy, đường z, khu phố s, phường An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 05/8/2024 và bản tự khai ngày 25/10/2024, nguyên đơn bà Lê Thị H trình bày:

Bà Lê Thị H và ông Nguyễn Xuân Th3 sống chung và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Th huyện Th1, tỉnh Th2 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 89 ngày 28 tháng 10 năm 2004.

Sau kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng không đồng suy nghĩ, khác biệt trong sinh hoạt dẫn đến không thể cùng nhau giải quyết các vấn đề phát sinh trong cuộc sống. Nay, bà H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H đề nghị Tòa án giải quyết cho bà H được ly hôn với ông Nguyễn Xuân Th3.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà H và ông Nguyễn Xuân Th3 có 02 người con chung tên Nguyễn Lê Hoài Th4, sinh ngày 22/7/2002 và Nguyễn Lê Hoàng P, sinh ngày 02/7/2019. bà H yêu cầu Toà án giải quyết giao con chung tên Nguyễn Lê Hoàng P, sinh ngày 02/7/2019 cho bà H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Riêng con chung tên Nguyễn Lê Hoài Th4, sinh ngày 22/7/2002 đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về cấp dưỡng nuôi con: bà H không yêu cầu ông Thanh cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chứng cứ, tài liệu nguyên đơn cung cấp: Bản chứng thực Căn cước công dân, Thông báo kết quả giải quyết cư trú; Bản chính Giấy chứng nhận kết hôn; Bản sao Giấy khai sinh và các tài liệu khác có liên quan đến hồ sơ vụ án.

Bị đơn ông Nguyễn Xuân Th3 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia tố tụng trong suốt quá trình giải quyết vụ án nhưng bị đơn vẫn không đến làm việc cũng không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Quá trình đưa vụ án ra xét xử, nguyên đơn bà Lê Thị H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Xuân Th3 cũng như yêu cầu về con chung; bà H không yêu cầu ông Nguyễn Xuân Th3 cấp dưỡng nuôi con và không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng. Bị đơn không chấp hành đúng pháp luật do đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không rõ lý do.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H và ông Thanh đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Bà Lê Thị Hvà ông Nguyễn Xuân Th3 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Th huyện Th1, tỉnh Th2 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 89 ngày 28 tháng 10 năm 2004. Nay bà Lê Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Xuân Th3 đồng thời giải quyết về vấn đề con chung. Do đó, quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Khoản 1, Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Nguyễn Xuân Th3 hiện cư trú tại phường An Phú, thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương nên theo quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 35 và Điểm a, Khoản 1, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương thụ lý đúng thẩm quyền.

Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Xuân Th3 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng và tham gia phiên tòa xét xử lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do nên căn cứ Điểm b, Khoản 2, Điều 227; Khoản 1, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị H và ông Nguyễn Xuân Th3 chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền nên là hôn nhân hợp pháp.

Xét thấy, trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Lê Thị H cho rằng từ đầu năm 2024, bà H và ông Thanh thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng không hòa hợp về suy nghĩ và quan điểm sống, mâu thuẫn kéo dài cho đến hiện tại. Mặc dù hai bên sống chung với nhau nhưng hai bên không còn quan hệ tình cảm vợ chồng, không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Bên cạnh đó, từ khi bà H nộp đơn ly hôn đến Tòa án nhân dân thành phố Thuận An cho đến nay, ông Thanh có biết việc bà H muốn ly hôn nhưng không có động thái gì nhằm hàn gắn hạnh phúc gia đình. ông Thanh đã được Tòa án triệu tập nhiều lần để lấy lời khai, hòa giải, tham gia phiên tòa để nhằm mục đích đoàn tụ nhưng vẫn không đến Tòa, thể hiện ý chí ông Thanh không có thiện chí đoàn tụ vợ chồng. Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H và ông Thanh là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Khoản 1, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H về việc yêu cầu được ly hôn với ông Thanh.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà Lê Thị H và ông Nguyễn Xuân Th3 có 02 người con chung tên Nguyễn Lê Hoài Th4, sinh ngày 22/7/2002 và Nguyễn Lê Hoàng P, sinh ngày 02/7/2019. Bà Lê Thị H yêu cầu Toà án giải quyết giao con chung tên Nguyễn Lê Hoàng P, sinh ngày 02/7/2019 cho bà H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Hội đồng xét xử xét thấy: Bà Lê Thị H hiện nay đang có công việc và thu nhập ổn định, có đủ điều kiện để đảm bảo chăm sóc cho con chung trong sinh hoạt và học hành. Bên cạnh đó, ông Nguyễn Xuân Th3 quá trình tố tụng không đến Tòa án để làm việc cũng như nêu nguyện vọng của mình về việc nuôi con. Do đó, để đảm bảo cho các con chung có cơ sở phát triển ổn định về mặt thể chất, tinh thần, phù hợp với nguyện vọng của các con chung, cần phải giao cháu Nguyễn Lê Hoàng P cho bà Lê Thị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Đối với con chung tên Nguyễn Lê Hoài Th4, sinh ngày 22/7/2002 do đã trưởng thành, có khả năng lao động, đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về cấp dưỡng nuôi con: bà H không yêu cầu ông Thanh cấp dưỡng nuôi con. Xét đây là ý chí tự nguyện của bà H, phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: Do các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1, Điều 28; Điểm a, Khoản 1, Điều 35; Điểm a, Khoản 1, Điều 39; Khoản 3, Điều 144; Điểm b, Khoản 2, Điều 227; Khoản 1, Điều 228; Điều 235; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 9, 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H đối với bị đơn ông Nguyễn Xuân Th3 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Xuân Th3.

- Về con chung: Bà Lê Thị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Nguyễn Lê Hoàng P, sinh ngày 02/7/2019.

Đối với con chung tên Nguyễn Lê Hoài Th4, sinh ngày 22/7/2002 do đã trưởng thành, có khả năng lao động, đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Thị H về việc không yêu cầu ông Nguyễn Xuân Th3 cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nuôi con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Bà Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng đã nộp theo Biên lai số 0002867 ngày 03/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo đúng quy định pháp luật./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ