- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BA Lừu Seo T - Ngải Thị L"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TỈNH LÀO CAI Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST Ngày: 09/6/2025. V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SI MA CAI, TỈNH LÀO CAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Triệu Vĩnh Thái.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Phạm Ức Trai.
- Ông Nguyễn Mạnh Tùng.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Tráng A Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 15/2025/TLST-HNGĐ ngày 12/3/2025 về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 04/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lừu Seo T, sinh năm 1991.
Nơi cư trú: Thôn S, xã Q, huyện S, tỉnh L - Có đơn đề nghị vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Ngải Thị L, sinh năm 1991.
Nơi cư trú cuối cùng: Thôn S, xã Q, huyện S, tỉnh L - Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án
nguyên đơn anh Lừu Seo T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Ngải Thị L tự nguyện về chung sống với nhau như vợ chồng từ đầu năm 2011, đến ngày 31/7/2012 anh, chị mới tự nguyện đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện S. Vợ chồng anh sống hạnh phúc đến tháng 5/2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày và nuôi dạy con cái dẫn đến thưỡng xuyên xảy ra cãi nhau, Vì vậy, năm 2016 chị L đã tự ý bỏ đi làm thuê và không nói cho anh và người nhà biết. Thỉnh thoảng chị L gọi điện và thỉnh thoảng về thăm con xong chị lại tiếp tục đi làm. Anh, chị đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay, không ai còn quan tâm đến nhau nữa cả về tình cảm lẫn kinh tế gia đình. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng đã sống ly thân với nhau thời gian dài, nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Ngải Thị L.
- Về nuôi con khi ly hôn: Quá trình chung sống anh và chị Ngải Thị L có một con chung là cháu Lừu Seo M sinh ngày 05/6/2012. Cháu khỏe mạnh, phát triển bình thường và đang ở cùng anh. Khi ly hôn anh đề nghị được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu cho đến khi cháu đủ 18 tuổi, Anh không yêu cầu chị Ngải Thị L phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nghĩa vụ tài sản: Vợ chồng chưa có tài sản chung, không vay nợ ai và không cho ai vay nợ nên anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
2. Đối với bị đơn chị Ngải Thị L:
Quá trình giải quyết vụ án chị Ngải Thị L đi làm ăn xa, thường xuyên không có mặt tại địa phương, nên Tòa án không thực hiện được việc tống đạt trực tiếp cho chị L được và hồ sơ không có ý kiến của chị L. Tòa án đã tiến hành xác minh, niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định Pháp luật.
Ủy ban nhân dân xã Q, trưởng thôn S, xã Q xác định: Về quan hệ hôn nhân, con chung và mâu thuẫn vợ chồng như lời trình bày của anh Lừu Seo T là đúng. Hiện nay, anh T ở nhà làm ruộng, trồng trọt, chăn nuôi, thỉnh thoảng đi làm thuê, thu nhập khoảng 7.000.000 đồng một tháng.
Ngày 29/4/2025, Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp
cận, công khai chứng cứ đối với nguyên đơn anh Lừu Seo T có mặt, chị Ngải Thị L vắng mặt không có lý do. Anh Lừu Seo T có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Si Ma Cai mở phiên tòa để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
Tại phiên Tòa:
- Nguyên đơn anh Lừu Seo T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.
- Bị đơn chị Ngải Thị L vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
* Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Thư ký tòa án, Hội đồng xét xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn chưa chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo pháp luật tố tụng Dân sự.
* Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình. Các Điều 228, 238 và Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xử theo hướng:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xử
cho anh Lừu Seo T được ly hôn với chị Ngải Thị L.
- Về con chung: Giao cháu Lừu Seo M sinh ngày 05/6/2012 cho anh Lừu Seo T trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu đủ 18 tuổi, chị Ngải Thị L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về án phí và quyền kháng cáo: Tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa; căn cứ
kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên; căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về Tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện và các chứng cứ kèm theo anh Lừu Seo T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn với chị Ngải Thị L, sinh năm 1988. Theo biên bản xác minh với Công an xã Q, năm 2021 thời điểm thu thập dữ liệu dân cư chị Ngải Thị L không có mặt tại địa phương nên không thu thập thông tin và đăng ký hộ khẩu thường trú cho chị Ngải Thị L được. Chị L thỉnh thoảng có về nhà thăm con rồi lại đi làm, Công an không nắm được chị L đi đâu, làm gì. Theo hướng dẫn tại khoản 3 Điều 5 Nghị quyết số: 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/ 2017 hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự thì có căn cứ xác định, nơi cư trú cuối cùng của chị Ngải Thị L là thôn S, xã Q, huyện S, tỉnh L. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai và quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Bị đơn chị Ngải Thị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Nguyên đơn anh Lừu Seo T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án căn cứ vào Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
Về quan hệ hôn nhân: Theo lời khai của nguyên đơn anh Lừu Seo T, kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã Q có đủ căn cứ xác định: Anh Lừu Seo T và chị Ngải Thị L ngày 31/7/2012 tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện S. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 5/2015 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày và nuôi dạy con cái dẫn đến thường xuyên xảy ra cãi nhau. Năm 2016 chị L đã tự ý bỏ đi làm thuê và không nói cho anh T và người nhà biết. Thỉnh thoảng chị L gọi điện và thỉnh thoảng về thăm con xong chị L lại tiếp tục đi làm. Anh T, chị L đã sống ly thân từ năm 2016 đến nay không ai quan tâm đến ai nữa.
Đối với chị Ngải Thị L: Quá trình giải quyết vụ án không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của anh T, không cung cấp tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do vậy, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do phía nguyên đơn anh Lừu Seo T, xác minh tại chính quyền địa phương để giải quyết vụ án.
Từ những phân tích trên có đủ căn cứ xác định vợ chồng anh T, chị L không có tiếng nói chung trong hôn nhân, thời gian sống ly thân đã lâu, hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Lừu Seo T về việc ly hôn Chị Ngải Thị L.
Về con: Anh Lừu Seo T và chị Ngải Thị L có một con chung cháu Lừu Seo M sinh ngày 05/6/2012, hiện nay cháu đang ở cùng anh T. Cháu M có nguyện vọng khi bố mẹ ly hôn được ở với Bố. Xét thấy, anh Thề là lao động tự do tại thôn S, xã Q, huyện S, công việc chủ yếu là trồng trọt, chăn nuôi và đi làm thuê thu nhập hàng tháng khoảng 7.000.000đ.
Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, cần tiếp tục giao cháu Lừu Seo M cho anh T chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi là phù hợp và chị L không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung và nghĩa vụ về tài sản: Các đương sự không có yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn anh Lừu Seo T là đồng bào dân tộc thiểu số,
sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình. Khoản 4 Điều 147; Các Điều 228, 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Anh Lừu Seo T:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Lừu Seo T được ly hôn với Chị Ngải Thị L. Quan hệ hôn nhân của anh Lừu Seo T và chị Ngải Thị L chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
- Về con: Anh Lừu Seo T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lừu Seo M sinh ngày 05/6/2012 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị Ngải Thị L không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Nhuận.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở
người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
2. Về án phí: Miễn án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm cho anh Lừu Seo T.
Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh; - VKSND tỉnh; - VKSND huyện; - UBND xã Q; - Chi cục THADS; - Các đương sự; - Lưu HS, VP, KT, TP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Triệu Vĩnh Thái |