vanban.org

Bản án 09/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị P.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị P được ly hôn với anh Nguyễn Văn Tý A. Về con chung: Chị Nguyễn Thị P được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Thị Thùy T1, sinh ngày 11/10/2007. Anh Nguyễn Văn Tý A được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 07/5/2015. Chị P và anh Tý A không phải cấp dưỡn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị P - Nguyễn VĂn Tý A"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị P.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
HUYỆN CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 16/01/2025.
V/v “Tranh chấp về hôn nhân
và gia đình về ly hôn, con chung”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Ông Trịnh Hữu Chinh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Thanh Tâm

2. Bà Nguyễn Thị Phượng

- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Trong ngày 16/01/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 436/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 628/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 659/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Nguyễn Thị P, sinh năm 1982;

Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Bị đơn: Nguyễn Văn Tý A, sinh năm 1984;

Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

(Chị P có đơn xin xét xử vắng mặt; Anh Tý A vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện ngày 18/7/2024, chị Nguyễn Thị P trình bày:

Về hôn nhân: Chị P và anh Nguyễn Văn T Anh kết hôn vào năm 2007, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 30/6/2009. Thời gian đầu, vợ chồng sống chung có hạnh phúc. Thời gian sau, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống. Từ tháng 03/2021, vợ chồng đã sống ly thân cho đến nay. Nhiều lần vợ chồng tìm cách hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, nay chị P yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn Tý A.

Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn Thị Thùy T1, sinh ngày 11/10/2007 và Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 07/5/2015. Hiện hai con chung đang sống cùng với chị P. Khi ly hôn, chị P yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu anh Tý A cấp dưỡng nuôi con.

Tại văn bản ý kiến ngày 27/12/2024, chị P thay đổi yêu cầu về phần con chung, chị P yêu cầu được nuôi con chung tên Nguyễn Thị Thùy T1, không yêu cầu anh Tý A cấp dưỡng. Chị P đồng ý giao con chung tên Nguyễn Văn Đ cho anh T Anh nuôi dưỡng, chị P không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn Tý A đã được tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp, hòa giải và được triệu tập xét xử hợp lệ nhưng không có văn bản ý kiến, không tham gia hòa giải và không có mặt tại phiên tòa sơ thẩm.

* Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án:

- Giấy khai sinh Nguyễn Thị Thùy T1 (bản sao);

- Giấy khai sinh Nguyễn Văn Đ (bản sao);

- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật: Căn cứ vào đơn yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị P về việc yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn Tý A, nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật của vụ án này là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình về ly hôn, nuôi con”.

Về thẩm quyền: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình về việc xin ly hôn giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn hiện nay đang cư trú tại xã B, huyện C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Anh Nguyễn Văn T Anh mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa mà không có lý do. Đồng Thời, chị Nguyễn Thị P có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Nguyễn Văn Tý A và chị Nguyễn Thị P.

Xét yêu cầu của nguyên đơn: Chị P và anh Tý A tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 30/6/2009 nên xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống thì nay chị P yêu cầu ly hôn vì cho rằng hôn nhân không thể tiếp tục, sống chung không còn hạnh phúc và hiện nay vợ chồng không còn sống chung. Về phía anh Tý A là bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các thông báo của tòa án nhưng không có ý kiến, không tham gia các phiên họp, phiên hòa giải và phiên tòa. Như vậy, có căn cứ nhận định anh Tý A không có thiện chí hàn gắn tình cảm, mâu thuẫn giữa vợ chồng như chị P trình bày là có thật và đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị P.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị Thùy T1, sinh ngày 11/10/2007 và Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 07/5/2015, hiện cháu T1 sống cùng với chị P và cháu Đ sống cùng với anh Tý A. Khi ly hôn, chị P yêu cầu được nuôi con chung Nguyễn Thị Thùy T1, không yêu cầu anh Tý A cấp dưỡng nuôi con. Chị P đồng ý giao con chung tên Nguyễn Văn Đ cho anh T Anh nuôi dưỡng, chị P không cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hiện nay cháu T1 sống với chị P và cháu Đ sống với anh Tý A được chăm sóc tốt và phát triển bình thường điều này cũng phù hợp với nguyện vọng của hai cháu. Do đó, để đảm bảo cuộc sống ổn định cũng nhưng sự phát triển của cháu T1 và cháu Đ, nên việc chị P yêu cầu được nuôi cháu T1 và đồng ý để anh T Anh nuôi cháu Đ; chị P và anh Tý A không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp nên chấp nhận.

Chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Văn T Anh có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

- Về tài sản chung và nợ chung: Chị P trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, thì chị P phải chịu 300.000đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị P đã nộp theo biên lai số 0009256 ngày 17/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị P.

- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị P được ly hôn với anh Nguyễn Văn Tý A.

- Về con chung: Chị Nguyễn Thị P được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Thị Thùy T1, sinh ngày 11/10/2007. Anh Nguyễn Văn Tý A được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 07/5/2015. Chị P và anh Tý A không phải cấp dưỡng nuôi con, do chị P và anh Tý A không có yêu cầu.

Chị Nguyễn Thị P và anh Nguyễn Tý A có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị P phải chịu 300.000đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị P đã nộp theo biên lai số 0009256 ngày 17/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ