vanban.org

Bản án 09/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Ng được ly hôn ông Vũ Duy Tr.

Về con chung: Giao con chung chưa thành niên là Vũ Duy Gia B (Sinh ngày 07/6/201x) cho bà Nguyễn Thị Ng được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Ng và ông Vũ Duy Tr"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Ng được ly hôn ông Vũ Duy Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST
Ngày 20 – 8 – 2025
“V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Văn Đương.

- Ông Nguyễn Đình Nhàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thái Thùy Linh – Thư ký của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh – Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 148/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ng. Sinh năm 198x. Địa chỉ xóm 01 HS, xã LS, tỉnh Nghệ An. Trước đây là xóm 01, xã HS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An. Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 17/8/2022). Vắng mặt tại phiên tòa (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Vũ Duy Tr. Sinh năm 198x. Địa chỉ khối X thị trấn, xã ĐL, tỉnh Nghệ An (Trước đây là khối X, thị trấn ĐL, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An. Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 28/6/2021). Đang cai nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 3, phân khu 2 – Công an tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, nguyên đơn trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ng và ông Vũ Duy Tr làm thủ tục đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn ĐL, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 24/02/201x. Từ khi kết hôn đến tháng năm 2022 vợ chồng sống hạnh phúc. Từ năm 2023 đến nay hai người sống ly thân, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Vũ Duy Tr nghiện ma túy, không chăm lo cuộc sống gia đình. Đến nay bà Nguyễn Thị Ng thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà Nguyễn Thị Ng được ly hôn ông Vũ Duy Tr.

- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà Nguyễn Thị Ng và ông Vũ Duy Tr có 01 (Một) con chung là Vũ Duy Gia B– sinh ngày 07/6/201x. Ly hôn thì bà Nguyễn Thị Ng đề nghị Tòa án giao con chung cho bà Nguyễn Thị Ng được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Nếu Tòa án giao cho bà Nguyễn Thị Ng được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con chung thì bà Nguyễn Thị Ng không yêu cầu ông Vũ Duy Tr phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung

- Về tài sản chung, nợ chung: bà Nguyễn Thị Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân khi ly hôn.

Theo bản tự khai 20/7/2025, ông Vũ Duy Tr trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Vũ Duy Tr đã biết việc bà Nguyễn Thị Ng nạp đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết việc ly hôn tại Tòa án. Ông Vũ Duy Tr thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thị Ng.

- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, ông Vũ Duy Tr và bà Nguyễn Thị Ng có 01 (Một) con chung là Vũ Duy Gia B– sinh ngày 07/6/201x. Ly hôn thì ông Vũ Duy Tr đề nghị Tòa án giao con chung Vũ Duy Gia B cho bà Nguyễn Thị Ng được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

- Về tài sản chung, nợ chung: Ông Vũ Duy Tr không yêu cầu Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân khi ly hôn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Nghệ An sau khi nhận xét, đánh giá việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, các đương sự và phân tích nội dung vụ án; đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 71, 72, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Ng được ly hôn ông Vũ Duy Tr.

- Về con chung: Giao con chung là Vũ Duy Gia B– sinh ngày 07/6/201x cho bà Nguyễn Thị Ng được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Ng không yêu cầu ông Vũ Duy Tr phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ng, ông Vũ Duy Tr đều không yêu cầu Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân khi ly hôn nên không xem xét.

- Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị Ng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Bị đơn là ông Vũ Duy Tr có hộ khẩu thường trú tại khối X thị trấn, xã ĐL, tỉnh Nghệ An (Trước đây là khối X, thị trấn ĐL, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An). Bà Nguyễn Thị Ng có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết việc ly hôn và nuôi con chung, do đó đây là vụ án ly hôn và tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn. Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Nghệ An thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

Hội đồng xét xử thấy rằng trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự đã có ý kiến trình bày đầy đủ về các vấn đề liên quan đến vụ án và đều đề nghị xét xử vắng mặt; xét việc vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó Hội đồng xét xử xem xét giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ ý kiến căn cứ ý kiến trình bày của các đương sự, căn cứ các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, Hội đồng xét xử xác định bà Nguyễn Thị Ng và ông Vũ Duy Tr làm thủ tục đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân thị trấn ĐL, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 24/02/201x; việc kết hôn giữa hai người là trên tinh thần tự nguyện, không bị ai ép buộc do đó hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Ng và ông Vũ Duy Tr là hợp pháp. Bà Nguyễn Thị Ng có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, nuôi con chung với ông Vũ Duy Tr nên cần được xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn và đều đề nghị giải quyết ly hôn, điều đó cho thấy bà Nguyễn Thị Ng, ông Vũ Duy Tr không còn tình cảm vợ chồng với nhau, không người nào có biện pháp gìn giữ hạnh phúc gia đình, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ng và giải quyết cho bà Nguyễn Thị Ng được ly hôn ông Vũ Duy Tr.

Về con chung: Căn cứ ý kiến trình bày của các đương sự và các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, Hội đồng xét xử xác định trong thời kỳ hôn nhân ông Vũ Duy Tr và bà Nguyễn Thị Ng có 01 (Một) con chung là Vũ Duy Gia B– sinh ngày 07/6/201x. Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều đề nghị Tòa án giao con chung cho bà Nguyễn Thị Ng được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét ý kiến của các đương sự phù hợp với nguyện vọng của cháu Vũ Duy Gia B và để đảm bảo quyền, lợi ích của con chung khi giải quyết vụ án ly hôn nên Hội đồng xét xử thấy cần giao con chung chưa thành niên là Vũ Duy Gia Bcho bà Nguyễn Thị Ng được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Ng không yêu cầu ông Vũ Duy Tr phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều không yêu cầu Toà án giải quyết việc chia tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân khi ly hôn nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 71, 72, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ng.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Ng được ly hôn ông Vũ Duy Tr.

2. Về con chung: Giao con chung chưa thành niên là Vũ Duy Gia B (Sinh ngày 07/6/201x) cho bà Nguyễn Thị Ng được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Không xem xét.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ng phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) do bà Nguyễn Thị Ng đã nạp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003077 ngày 24/6/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An (Đã thi hành xong).

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ