vanban.org

Bản án 09/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội.

Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Khắc K. Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của chị T và anh K: Giao chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là cháu NguyễnThị An N, sinhngày29/12/2020 và Nguyễn Hoàng Tú A, sinh ngày 02/6/2024 và anh K cấp dưỡng nuôi con chung đối với cháu N… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGUYỄN THỊ T - NGUYỄN KHẮC K "LY HÔN, NUÔI CON""
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 – NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST
Ngày 22 - 8 - 2025
V/v tranh chấp ly hôn; nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tươi.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hoằng và ông Nguyễn Văn Thể.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình.

Ngày 22 tháng 8 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình (cơ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam cũ) xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 43/2025/TLST - HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QĐST – HNGĐ ngày 06/8/2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 2000; Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố B, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam (nay là Tổ dân phố B, phường D, tỉnh Ninh Bình); nơi ở hiện nay: Thôn G, xã L, huyện T, tỉnh Hà Nam (nay là Thôn G, xã T, tỉnh Ninh Bình); vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

* Bị đơn: Anh Nguyễn Khắc K, sinh năm 1991; nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam (nay là Tổ dân phố B, phường D, tỉnh Ninh Bình); vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bầy: Chị và anh Nguyễn Khắc K đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam (nay là phường D, tỉnh Ninh Bình) vào ngày 15/6/2020 trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu đi đến xây dựng hạnh phúc.

Sau ngày cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do hai vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong sinh hoạt hàng ngày, mâu thuẫn trong làm ăn kinh tế, cuộc sống chung không hạnh phúc nên dẫn đến tình cảm không thể hàn gắn được. Quá trình chung sống vợ chồng đã ly thân nhiều lần và lần ly thân gần đây nhất từ tháng 3/2025 đến nay không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh K.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Khắc K trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị T đăng ký kết hôn tại UBND phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam (nay là phường D, tỉnh Ninh Bình) vào ngày 15/6/2020. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận đến tháng 3/2025 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không cùng quan điểm về tiền lương, chưa có sự thống nhất trong cách chi tiêu gia đình nên hai vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong sinh hoạt hàng ngày, mâu thuẫn trong làm ăn kinh tế, chị T đã đưa 02 con về nhà bố mẹ đẻ để sinh sống từ tháng 3/2025 đến nay. Vợ chồng đã ly thân nhiều lần và lần ly thân gần đây nhất từ tháng 3/2025 đến nay không còn quan tâm đến nhau. Nay chị T xin ly hôn thì anh thấy vẫn còn tình cảm với chị T và không muốn các con chung phải khổ nên anh K không đồng ý ly hôn.

Về con chung của vợ chồng: Chị T và anh K xác nhận vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị An N, sinh ngày 29/12/2020 và Nguyễn Hoàng Tú A, sinh ngày 02/6/2024. Khi ly hôn chị T và anh K thống nhất thỏa thuận để chị T trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung và anh K cấp dưỡng nuôi con chung đối với cháu Nguyễn Hoàng Tú A mỗi tháng là 3.000.000đ kể từ tháng 8/2025 cho đến khi cháu Nguyễn Hoàng Tú A đủ 18 tuổi, trưởng thành, tự lập được.

Về tài sản chung; công sức; công nợ: Chị T, anh K không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

- Về thủ tục tố tụng:

Chị Nguyễn Thị T khởi kiện xin ly hôn anh Nguyễn Khắc K có nơi cư trú tại phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam (nay là phường D, tỉnh Ninh Bình) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình không tham gia phiên tòa là đúng với quy định tại Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa vắng mặt chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Khắc K, chị T đã có Đơn xin xử vắng mặt, anh K vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên HĐXX căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự tại phiên tòa.

- Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Khắc K kết hôn trên cơ sở tự nguyện được Ủy ban nhân dân phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam (nay là phường D, tỉnh Ninh Bình) đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo hộ.

Theo chị T, anh K đều trình bày vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian thì giữa vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, bất hòa. Nguyên nhân xảy ra là do bất đồng quan điểm, giữa vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống, mâu thuẫn trong làm ăn kinh tế nên dẫn đến tình cảm vợ chồng lạnh nhạt, không quan tâm đến nhau và sống ly thân từ tháng 3/2025 đến nay. Nay chị T xin ly hôn thì anh K không đồng ý ly hôn nhưng từ thời điểm vợ chồng sống ly thân đến nay chị T, anh K không đưa ra được biện pháp hàn gắn tình cảm, mâu thuẫn vợ chồng vẫn tồn tại, vợ chồng vẫn sống ly thân là thực tế các bên đã thừa nhận, không còn quan tâm đến nhau. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã tồn tại trong một thời gian mà không được cải thiện, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy cần xử ly hôn giữa chị T và anh K là phù hợp thực tế và có căn cứ pháp luật tại các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình.

Về con chung: Chị T và anh K xác nhận vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị An N, sinh ngày 29/12/2020 và Nguyễn Hoàng Tú A, sinh ngày 02/6/2024. Khi ly hôn chị T và anh K thống nhất thỏa thuận để chị T trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung và anh K cấp dưỡng nuôi con chung đối với cháu Nguyễn Hoàng Tú A mỗi tháng là 3.000.000đ kể từ tháng 8/2025 cho đến khi cháu Nguyễn Hoàng Tú A đủ 18 tuổi, trưởng thành, tự lập được nên Hội đồng xét xử cần ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Về tài sản chung, công nợ, công sức: Do đương sự không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra xem xét.

Về án phí ly hôn sơ thẩm; án phí cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Điều 28; 35; 39; 147, 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 107, 110, 116 và 117 Luật hôn nhân gia đình;

- Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội.

1.Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Khắc K.

2. Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của chị T và anh K: Giao chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là cháu NguyễnThị An N, sinhngày29/12/2020 và Nguyễn Hoàng Tú A, sinh ngày 02/6/2024 và anh K cấp dưỡng nuôi con chung đối với cháu Nguyễn Hoàng Tú A mỗi tháng là 3.000.000đ kể từ tháng 8/2025 cho đến khi cháu Nguyễn Hoàng Tú A đủ 18 tuổi, trưởng thành, tự lập được. Chị T; anh K được quyền thăm hỏi, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Chị T và các thành viên trong gia đình không được cản trở anh K trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

3. Án phí:

- Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị T phải nộp số tiền 300.000đ. Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị T đã nộp theo biên lai số 0001618 ngày 28/5/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 6 - Ninh Bình) được đối trừ khi thi hành án.

- Áp phí cấp dưỡng nuôi con: Anh K phải nộp số tiền 300.000đ

Án xử công khai sơ thẩm; chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Khắc K vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ