vanban.org

Bản án 09/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Đức H.

Về quan hệ hôn nhân: bà Trần Thị Đức H được ly hôn với ông Bùi Thái H1. Về con chung: Giao cháu Bùi Thái Trung H2, sinh ngày 11/3/2018 cho bà Trần Thị Đức H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Tạm thời, ông Bùi Thái H1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Đức H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 09-7-2025
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Huy Công

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Ngọc Hiệp;

Ông Đặng Văn Nga.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đức Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Cao Kỷ Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Đồng Nai, cơ sở 2 (cũ là Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai) xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 179/2025/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 110/2025/QĐST- HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Đức H, sinh năm 1996;

Địa chỉ cư trú: tổ E, Khu phố A, phường T (C là phường T, thành phố B) tỉnh Đồng Nai

Địa chỉ liên hệ: Chung cư C, số G, đường Đ, phường T (C là phường T, thành phố B) tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông Bùi Thái H1, sinh năm 1997;

Địa chỉ cư trú: Tổ B, ấp G, phường T (Cũ là xã T, huyện V), tỉnh Đồng Nai.

(Bà H - có đơn xin xét xử vắng mặt, ông H1 - vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn ly hôn, các bản tự khai nguyên đơn là bà Trần Thị Đức H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Sau một thời gian quen biết và tìm hiểu nhau, bà H với ông Bùi Thái H1 phát sinh tình cảm. Ông, bà đã tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận kết hôn theo quy định năm 2017. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến khoảng giữa năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn. Vợ chồng đã cố gắng hòa giải nhưng không có kết quả. Mâu thuẫn càng gay gắt hơn từ đầu năm 2023. Nguyên nhân, mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp và không còn thương yêu nhau. Bà H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không đạt, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Bùi Thái H1.

Về con chung: Bà H xác định, bà và ông H1 có 01 con chung tên Bùi Thái Trung H2, sinh ngày 11/3/2018. Ly hôn, bà H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu H2, yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000đồng/tháng. Quá trình trình giải quyết bà H thay đổi yêu cầu cấp dưỡng, cụ thể: Tạm thời bà H không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Bà H trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Bùi Thái H1:

Đã được Tòa án triệu tập để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do nên không có lời trình bày tại Tòa án.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai, tại phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa là đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng, bị đơn không chấp hành quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Về quan hệ hôn nhân: Cho bà H được ly hôn với ông H1; Về con chung: Giao cháu H2 cho bà H trực tiếp chăm sóc, tạm thời, ông H1 không phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết trong vụ án này, tách ra giải quyết sau nếu đương sự có yêu cầu; Về án phí: bà H phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

. Về tố tụng:

. Thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo kết quả xác minh ngày 25/4/2025 của Công an xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai thì ông Bùi Thái H1 đang sinh sống tại: tổ B, ấp G, xã T, huyện V (N là phường T), tỉnh Đồng Nai. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 – Đồng Nai, thụ lý giải quyết vụ án là đúng quy định.

. Về việc vắng mặt của đương sự tại phiên tòa:

Tòa án đã triệu tập các đương sự để tham gia phiên tòa nhưng bà H có đơn xin xét xử vắng mặt, ông H1 vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.

. Về nội dung vụ án:

. Quan hệ hôn nhân: bà Trần Thị Đức H và ông Bùi Thái H1 kết hôn vào năm 2017, có đăng ký kết hôn, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và đã được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp Giấychứng nhận kết hôn số 221/2017 ngày 10/10/2017. Căn cứ vào Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, hôn nhân giữa bà H, ông H1 là hôn nhân hợp pháp.

Theo bà H, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân, do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp và không còn thương yêu nhau. Vợ chồng đã cố gắng hòa giải nhưng không có kết quả. Bà H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không đạt, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H1.

Theo kết quả xác minh ngày 12/5/2025 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai thì địa phương không có thông tin về mẫu thuẫn trong hôn nhân giữa bà H và ông H1 do các đương sự không trình báo, yêu cầu địa phương hòa giải. Tuy nhiên, quá trình giải quyết, Tòa án đã triệu tập làm việc, tiến hành hòa giải theo quy định nhưng ông H1 vắng mặt, không có lời trình bày, bà H đề nghị không tiến hành hòa giải. Do đó, có cơ sở chứng minh bà H đã cương quyết ly hôn, ông H1 bỏ mặc, không muốn níu kéo tình cảm, hàn gắn gia đình.

Từ những nhận định trên, xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H, ông H1 là có thật. Hôn nhân giữa bà H với ông H1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử cho bà H được ly hôn ông H1.

. Về con chung: Bà H xác định, bà và ông H1 có 01 con chung tên Bùi Thái Trung H2, sinh ngày 11/3/2018. Ly hôn, bà H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu H2, yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000đồng/tháng. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà H thay đổi yêu cầu giải quyết về con chung, tạm thời không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Bùi Thái H1 không có mặt tại Tòa án khi Tòa triệu tập, cũng không có lời khai trình bày ý kiến về con chung.

Xét thấy, cháu H2 đã trên 07 tuổi có nguyện vọng ở với bà H. Hiện nay cháu H2 đang ở cùng và được bà H nuôi dưỡng khỏe mạnh, phát triển bình thường, bà H có việc làm, hàng tháng có thu nhập. Do đó, để đảm bảo sự ổn định và phát triển tốt nhất cũng như phù hợp với nguyện vọng của con chung, Hội đồng xét xử, giao con chung là Bùi Thái Trung H2, sinh ngày 11/3/2018 cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục. Tạm thời, ông H1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

. Về tài sản chung và nợ chung: Bà H xác định bà và ông H1 tự thỏa thuận về tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà H xác định bà và ông H1 không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông H1 vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và không có lời khai nên không đủ cơ sở xác định đối với tài sản chung, nợ chung. Do đó, không đặt ra xem xét, giải quyết trong vụ án này và tách ra giải quyết bằng vụ việc khác khi đương sự có yêu cầu.

. Về án phí: Bà H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Đồng Nai tại phiên tòa phù hợp với tài liệu, chứng cứ và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Căn cứ vào Điều 8, Điều 9, Điều 51, 54, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Đức H.

1. Về quan hệ hôn nhân: bà Trần Thị Đức H được ly hôn với ông Bùi Thái H1.

2. Về con chung: Giao cháu Bùi Thái Trung H2, sinh ngày 11/3/2018 cho bà Trần Thị Đức H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Tạm thời, ông Bùi Thái H1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: không đặt ra xem xét, giải quyết trong vụ án này. Tách ra giải quyết bằng một vụ việc khác khi đương sự có yêu cầu.

4. Về án phí: Bà Trần Thị Đức H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0025354 ngày 22/4/2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Đương sự đã nộp xong án phí.

5. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ