vanban.org

Bản án 09/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thị Mỹ H.

Về hôn nhân: Cho chị Lâm Thị Mỹ H ly hôn với anh Thạch G Về quyền, nghĩa vụ đối với con chung: Giao con chung cháu Thạch Lâm An N sinh ngày 18/01/2024 cho chị Lâm Thị Mỹ H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thị Mỹ H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC A – VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST
Ngày 08-8-2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC A – VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Kim Thị Hồng Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Trần Đông

2. Ông Hoàng Sĩ Thạo

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Trung, là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực A – Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực A – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Kiên Thị Diệu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực A – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 88/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2024 về việc: Ly hôn và tranh chấp quyền nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14a/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 10/2025/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lâm Thị Mỹ H, sinh năm 2003. Địa chỉ: ấp C, xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh (nay là ấp C, xã N, tỉnh Vĩnh Long). Đề nghị xét xử vắng mặt

- Bị đơn: Anh Thạch G, sinh năm 2002. Địa chỉ: ấp C, xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh (nay là ấp C, xã N, tỉnh Vĩnh Long). Vắng mặt không lý do

- Con chung: Cháu Thạch Lâm An N, sinh ngày 18/01/2024

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 30/9/2024 nguyên đơn chị Lâm Thị Mỹ H trình bày yêu cầu:

Về hôn nhân, chị và anh Thạch G quen biết rồi tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh (nay là Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Vĩnh Long) vào tháng 01 năm 2024. Sau kết hôn hai người sinh sống và làm việc tại ấp C, xã N, thời gian đầu hạnh phúc, nhưng sau đó không lâu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do tính tình không hợp, thường hay xảy ra cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày nên chị yêu cầu ly hôn.

Về con chung, chị và anh Thạch G có 01 con chung tên Thạch Lâm An N, sinh ngày 18/01/2024 đang sinh sống với chị nên chị yêu cầu nuôi con sau ly hôn và không yêu cầu cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung và nợ chung, không có nên chị không yêu cầu.

Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Lâm Thị Mỹ H cho rằng:

Chị vẫn giữ yêu cầu ly hôn do sau khi kết hôn sống chung được vài tháng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, cự cải thường xuyên, bất kể là việc nhỏ hay việc lớn đều cải nhau, vì không thể sống chung tiếp nên từ tháng 5/2024 chị trở về nhà cha mẹ ruột tại ấp C, xã N sinh sống đến nay và không muốn trở về hàn gắn, đoàn tụ. Riêng anh Thạch G vẫn sinh sống nhà cha mẹ ruột tại ấp C, xã N. Con chung Thạch Lâm An N, sinh ngày 18/01/2024 hiện nay do chị chăm sóc, nuôi dưỡng tốt nên chị yêu cầu nuôi tiếp sau ly hôn, chị có công việc và thu nhập ổn định mỗi tháng khoảng 8.000.000 đồng và có sự phụ giúp của cha mẹ nên đảm bào có điều kiện và khả năng nuôi con đến thành niên. Tài sản chung, nợ chung, chị vẫn khai xác nhận không có nên không yêu cầu chia hoặc tranh chấp gì khác khi ly hôn.

Bị đơn anh Thạch G vắng mặt nên không có lời trình bày và yêu cầu.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán về việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử và việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, về thời hạn chuẩn bị xét xử chưa đảm bảo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025, trễ hạn hơn 03 tháng. Đối với nguyên đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng đúng quy định. Riêng bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng đúng quy định.

Về việc giải quyết vụ án:

Chị H và anh G tự nguyện tiến đến hôn nhân có đăng ký kết hôn theo quy định, đây là hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian chung sống phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cự cải và chị H đã dọn về nhà cha mẹ ruột ở từ hồi tháng 05/2024. Trong quá trình thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh G nhưng anh G không tham gia phiên hòa giải cũng như không gửi ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của chị H là xem như không có thiện chí để vợ chồng được đoàn tụ nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Con chung tên Thạch Lâm An N, sinh ngày 18/01/2024 giao cho chị H trực tiếp nuôi con, chị H không yêu cầu anh Thạch G cấp dưỡng nên không xem xét; Về tài sản chung, nợ chung không có nên không xem xét.

Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ điểm a, khoản 5, Điều 27 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án quy định.

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thị Mỹ H về yêu cầu ly hôn với anh Thạch G. Về con chung: Giao con chung tên Thạch Lâm An N, sinh ngày 18/01/2024 cho chị Lâm Thị Mỹ H trực tiếp nuôi dưỡng. Chị H không yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét giải quyết. Tài sản chung, nợ chung: Không có và không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

Những yêu cầu, kiến nghị đề nghị cần khắc phục: Kiến nghị khắc phục thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Chị Lâm Thị Mỹ H khởi kiện anh Thạch G có nơi cư trú tại ấp C, xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh (nay là ấp C, xã N, tỉnh Vĩnh Long), nội dung yêu cầu ly hôn, yêu cầu nuôi con chung. Nhận thấy, căn cứ vào khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025, Toà án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh (nay là Toà án nhân dân Khu vực A – Vĩnh Long) thụ lý, giải quyết vụ án, cũng như xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và xác định tư cách đương sự là đúng quy định.

Sự vắng mặt của nguyên đơn là có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn anh Thạch G là vắng mặt không lý do. Nhận thấy, anh Thạch G đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên toà đến lần thứ hai mà vắng mặt, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, căn cứ vào điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025, vẫn tiến hành xét xử vắng mặt tất cả người tham gia tố tụng.

Tại đơn khởi kiện và các lời khai của đương sự cho thấy, chị Lâm Thị Mỹ H và anh Thạch G kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn, được thể hiện tại giấy chứng nhận kết hôn số 09/2024, đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh (nay là Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Vĩnh Long) vào ngày 25/01/2024 (bút lục 04) nên hôn nhân của họ là hợp pháp.

Chị Lâm Thị Mỹ H cho rằng do vợ chồng xảy ra mâu thuẫn không thể hàn gắn nên yêu cầu ly hôn. Trước khi đưa vụ án ra xét xử, Toà án đã có thông báo hoà giải nhằm tạo điều kiện để vợ chồng đoàn tụ, mà anh Thạch G vắng mặt, Toà án có động viên, giải thích, đồng thời thuyết phục chị H hàn gắn tình nghĩa vợ chồng mà không thành, chị H kiên quyết giữ yêu cầu ly hôn, yêu cầu nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng cho con. Đối với anh Thạch G không có văn bản phản đối hoặc đưa ra ý kiến hay yêu cầu của mình trong vụ án, tại thời điểm xét xử hai người không còn sống chung và chị H không yêu cầu đoàn tụ, điều này thể hiện mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có cơ sở chấp nhận cho chị H và anh G ly hôn.

Đối với cháu Thạch Lâm An N sinh ngày 18/01/2024. Qua giấy khai sinh (bút lục 05) thể hiện cháu chưa đủ 07 tuổi. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã có giải thích cho đương sự quy định của pháp luật về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con tại các điều 82, 83, 107 và điều 110 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nhưng đương sự xác định không yêu cầu cấp dưỡng. Nhận thấy, căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con chung và xác minh tại địa phương (bút lục 25, 26) thời điểm xét xử vụ án, cháu Thạch Lâm An N do chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trong điều kiện đáp ứng các nhu cầu thiết yếu như: vui chơi, học tập, … v … v … nên có cơ sở giao cháu Thạch Lâm An N cho chị H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục sau ly hôn. Sau ly hôn nếu chị H cho rằng không đảm bảo điều kiện tiếp tục nuôi con chung thì có quyền khởi kiện yêu cầu anh G cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Quyền, nghĩa vụ đối với tài sản chung, đương sự khai xác nhận không có, đồng thời không yêu cầu chia hoặc tranh chấp gì khác nên không xem xét.

Quan điểm phát biểu của Kiểm sát viên cho rằng, vụ án chưa đảm bảo về thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025. Nhận thấy, phát biểu của Kiểm sát viên là đúng nên Thẩm phán cần nghiêm túc rút nghiệm và khắc phục triệt để. Đối với phát biểu đề nghị việc giải quyết vụ án là có cơ sở, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 238 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025; Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Thị Mỹ H.

1. Về hôn nhân: Cho chị Lâm Thị Mỹ H ly hôn với anh Thạch G

2. Về quyền, nghĩa vụ đối với con chung: Giao con chung cháu Thạch Lâm An N sinh ngày 18/01/2024 cho chị Lâm Thị Mỹ H trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Về cấp dưỡng cho con: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết (sau khi ly hôn đương sự được quyền khởi kiện yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự).

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được ngăn cản. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về quyền, nghĩa vụ tài sản chung: Đương sự không yêu cầu chia hoặc tranh chấp khi ly hôn nên không giải quyết.

4. Về án phí: Buộc chị Lâm Thị Mỹ H chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn 300.000 đồng và được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền số: 0014440 ngày 18/11/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực A – Vĩnh Long) nên không phải nộp tiếp.

Anh Thạch G không phải chịu án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày niêm yết bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ