- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn Ốc L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST Ngày 21 tháng 7 năm 2025 V/v “Ly hôn, t/c về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Hoài Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân: bà Lê Thị Thường và ông Phan Minh Quốc.
- Thư ký phiên tòa: ông Lâm Quang Trực – Là Thư ký của Tòa án nhân dân khu vực 10 - An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – An Giang: bà Nguyễn Thị Lam Em – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 7 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 – An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 179/2025/TLST-HNGĐ ngày 28/4/2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/6/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/QĐST-HNGĐ ngày 04/7/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: anh Nguyễn Văn Ốc L, sinh năm 1986
Địa chỉ: ấp B, xã H, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: chị Vũ Thị Kim T, sinh năm 1992
Địa chỉ: khóm B, xã Thoại Sơn, tỉnh An Giang
Nguyên đơn anh Ốc L có đơn xin vắng mặt. Bị đơn chị T vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện và biên bản lấy lời khai nguyên đơn anh Nguyễn Văn Ốc L bày:
Qua mai mối, anh với chị Vũ Thị Kim T quyết định chung sống với nhau vào năm 2008, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu. Khi sinh con vào năm 2009 do kinh tế khó khăn nên vợ chồng quyết định lên Bình Dương làm công nhân. Làm được khoảng 4 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do hai vợ chồng làm khác ca (anh làm ca đêm, chị T làm ca ngày) dẫn đến mệt mỏi, không hiểu nhau, trong một lần cãi nhau anh đi làm về thì phát hiện vợ đã dọn đồ bỏ đi nơi khác. Anh có đi kiếm, cũng hỏi thăm bên nhà vợ nhưng không có kết quả. Anh với chị T cũng chính thức sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay. Do thời gian ly thân đã lâu, tình cảm không còn nên anh Ốc L yêu cầu giải quyết như sau:
+ Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Văn Ốc L xin được ly hôn với chị Vũ Thị Kim T.
+ Về quan hệ con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Văn Minh P sinh ngày 27/10/2009 hiện đang sống với anh Ốc L. Sau ly hôn anh Ốc L yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu chị T cấp dưỡng.
+ Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết.
- Bị đơn chị Vũ Thị Kim T: Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho chị T nhưng từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến nay chị T vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của anh Ốc L.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong thời hạn chuẩn bị xét xử:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm hiện tại, nhận thấy Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như: Xác định đúng quan hệ tranh chấp, thụ lý và giải quyết theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Quá trình thụ lý Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ khi tiến hành lập hồ sơ vụ án, thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, tống đạt và niêm yết hợp lệ các thông báo và quyết định, thời hạn chuẩn bị xét xử đúng theo quy định của pháp luật.
+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:
Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.
+ Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 8, 9, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; tuyên:
Về hôn nhân: anh Nguyễn Văn Ốc L được ly hôn với chị Vũ Thị Kim T.
Về con chung: giao con chung tên Nguyễn Văn Minh P sinh ngày 27/10/2009 cho anh Ốc L trực tiếp nuôi dưỡng, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: không xem xét.
Về án phí: anh Nguyễn Văn Ốc L phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn Ốc L xin được ly hôn với chị Vũ Thị Kim T; bị đơn chị Vũ Thị Kim T có đăng ký nơi thường trú tại khóm B, xã Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình về “Ly hôn và nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 – An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về tố tụng: nguyên đơn anh Nguyễn Văn Ốc L có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn chị Vũ Thị Kim T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Ốc L và chị T.
Về nội dung tranh chấp:
Anh Nguyễn Văn Ốc L và chị Vũ Thị Kim T chung sống với nhau từ năm 2008, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang (nay là xã Hội An, tỉnh An Giang), được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 97/2013 ngày 17/6/2013. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xét yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Văn Ốc L, thấy: trong quá trình sống chung vợ giữa anh Ốc L và chị T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung dẫn đến cãi nhau. Năm 2014 chị T đã quyết định rời khỏi nơi ở cho đến nay không quay về mặc dù anh Ốc L đã cố gắng đi tìm nhưng không có kết quả. Anh Ốc L và chị T cũng chính thức sống ly thân từ năm 2014 cho đến nay. Thời gian sống ly thân vợ chồng không gặp nhau nên không có cơ hội hàn gắn tình cảm. Trong quá trình giải quyết Tòa án có tiến hành thông báo hòa giải nhằm mục đích động viên, hàn gắn nhưng chị T vắng mặt và không có văn bản nào thể hiện nguyện vọng muốn được hàn gắn quan hệ vợ chồng với anh Ốc L để xây dựng hạnh phúc gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa anh Ốc L và chị T không còn, tình trạng hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó có đủ căn cứ để áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Ốc L.
Về quan hệ con chung, thấy: theo tài liệu, chứng cứ anh Ốc L cung cấp thì anh Ốc L và chị T có 01 con chung tên Nguyễn Văn Minh P sinh ngày 27/10/2009. Anh Ốc L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con cho đến khi trưởng thành. Tại biên bản ghi nhận ý kiến ngày 15/5/2025, cháu Minh P có mong muốn được tiếp tục sống với anh Ốc L. Xét thấy, từ khi vợ chồng sống ly thân anh Ốc L là người trực tiếp nuôi con, quá trình giải quyết vụ án chị T không có văn bản nào có yêu cầu tranh chấp về nuôi con chung. Căn cứ vào Điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giao con chung Minh P cho anh Ốc L tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con do anh Ốc L không yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết.
Từ những phân tích trên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – An Giang là có căn cứ.
Về án phí: anh Ốc L là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 điều 28, điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và khoản 1 điều 88 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn Ốc L.
- Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Văn Ốc L được ly hôn với chị Vũ Thị Kim T.
- Về quan hệ con chung:
Giao con chung Nguyễn Văn Minh P sinh ngày 27/10/2009 cho anh Nguyễn Văn Ốc L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
Chị Vũ Thị Kim T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Nguyễn Văn Ốc L và chị Vũ Thị Kim T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở nhau trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định
- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết.
2. Về án phí: anh Nguyễn Văn Ốc L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0021909 ngày 28/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 10 – An Giang) nên đã nộp xong.
3. Về quyền kháng cáo:
Anh Nguyễn Văn Ốc L và chị Vũ Thị Kim T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã (thị trấn) nơi cư trú để yêu cầu xem xét phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND khu vực 10; - Phòng THADS khu vực 10; - UBND xã H; - Các đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoài Lâm |