vanban.org

Bản án 09/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử Chị Nguyễn Thị L ly hôn Anh Bùi Văn H.

Về quan hệ con chung: Giao con chung Bùi Hiền Tr, sinh ngày 22/1/2010 cho Chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung Bùi Huy H, sinh ngày 29/7/2011 cho Anh Bùi Văn H trực tiếp nuôi dưỡng; kể từ tháng 1/2025 cho đến khi các con chung thành niên, đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện không yêu…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị L ly hôn anh Bùi Văn H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử Chị Nguyễn Thị L ly hôn Anh Bùi Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH HÀ
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 24/1/2025
V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ - TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Công Nhận

Bà Bùi Thị Vân

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà,tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 1 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 262/2024/TLST-HNGĐ, ngày 30 tháng 10 năm 2024, về việc: "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn". Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/12/2024, quyết định hoãn phiên toà số 05A/2025/QĐST-HNGĐ ngày 17/1/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1986; (xin vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Bùi Văn H, sinh năm 1977; (vắng mặt)

Đều cư trú: Thôn T Y, xã V C, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn Chị Nguyễn Thị L trình bày:

Chị và Anh H tự do tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại UBND xã V L (nay là xã V C) ngày 03/04/2009. Sau ngày cưới vợ chồng sinh sống hạnh phúc được khoảng thời gian 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng đã sống ly thân khoảng vài năm nay. Trong thời gian ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định không thể tiếp tục chung sống với Anh H, chị làm đơn xin ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn Anh H.

Về con chung: Chị và Anh H có 02 con chung là Bùi Hiền Tr, sinh ngày 22/1/2010 và Bùi Huy H, sinh năm 29/7/2011. Hiện cháu Tr đang ở cùng với chị L, cháu H đang ở cùng Anh H. Khi ly hôn chị đề nghị xin nuôi cháu Tr, Anh H nuôi cháu H, hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho nhau.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh chị không có tài sản chung, nợ chung, không có công sức đóng góp với gia đình hai bên nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn Anh H trình bày: Về điều kiện kết hôn và thời gian kết hôn như chị L trình bày là đúng. Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, không thể tìm được tiếng nói chung và không thể hàn gắn được quan hệ hôn nhân. Anh xác định vợ chồng đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Quan điểm của anh khi chị L làm đơn xin ly hôn là việc ly hôn của chị L. Anh đề nghị giải quyết theo quy đinh pháp luật.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung như chị L trình bày. Cháu Tr đang ở cùng mẹ, cháu H đang ở cùng anh. Quan điểm của anh khi vợ chồng ly hôn, anh xin được tiếp tục nuôi cháu H, chị L tiếp nuôi cháu Tr theo nguyện vọng của các con, hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho nhau.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung, không có công sức đóng góp gì với gia đình hai bên nên anh không đề nghị giải quyết.

Tại phiên toà: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, giữ nguyên ý kiến nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị L, Anh H trong quá trình tham gia tố tụng chấp hành đúng các quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Áp dụng Điều 51, 56, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, 227, 228, 229, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Xử Chị Nguyễn Thị L và Anh Bùi Văn H ly hôn; về con chung: Giao con chung là cháu Bùi Hiền Tr, sinh ngày 22/1/2010 cho chị L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung cháu Bùi Huy H, sinh năm 29/7/2011 cho Anh H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng của chị L, Anh H. Chị L phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà và xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, HĐXX xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị L, Anh H tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V L (nay là xã V C), huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị L và ý kiến của Anh H, Hội đồng xét xử thấy: Nguyên nhân mâu thuẫn là do hai bên không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, hai bên có xảy ra xô sát. Vợ chồng sống ly thân, trong thời gian ly thân không ai quan tâm đến ai, độc lập kinh tế. Chị L xin ly hôn, Anh H xác định vợ chồng có mâu thuẫn không thể hàn gắn được, anh không có biện pháp để vợ chồng đoàn tụ, đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị L, Anh H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L, xử cho chị L ly hôn Anh H là có căn cứ, phù hợp với quy định Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Chị L, Anh H có 02 con chung là Bùi Hiền Tr, sinh ngày 22/1/2010 và Bùi Huy H, sinh năm 29/7/2011. Khi ly hôn chị L, Anh H đều nhất trí chị L tiếp tục nuôi con Bùi Hiền Tr, Anh H tiếp tục nuôi con Bùi Huy H; hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho nhau. Mặt khác cháu Tr có nguyện vọng ở với mẹ, cháu H có nguyện vọng ở với bố. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con, Hội đồng xét xử thấy cần giao con chung Bùi Hiền Tr, sinh ngày 22/1/2010 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung Bùi Huy H, sinh ngày 29/7/2011 cho Anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng của chị L, Anh H.

Về tài sản chung, công sức, nợ chung: Chị L, Anh H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 51, 56, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, 227, 228, 229, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử Chị Nguyễn Thị L ly hôn Anh Bùi Văn H.

2. Về quan hệ con chung: Giao con chung Bùi Hiền Tr, sinh ngày 22/1/2010 cho Chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng; giao con chung Bùi Huy H, sinh ngày 29/7/2011 cho Anh Bùi Văn H trực tiếp nuôi dưỡng; kể từ tháng 1/2025 cho đến khi các con chung thành niên, đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng của chị L, Anh H.

Chị Nguyễn Thị L, Anh Bùi Văn H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0005920 ngày 24/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Chị L đã thực hiện xong nghĩa vụ về án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

Cỡ chữ