- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa nguyên đơn Ngô Thị U với bị đơn Nguyễn Văn S"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị Út .
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST Ngày: 11-02-2025 “V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Thành Nhân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Phượng.
2. Bà Lâm Kim Huệ.
- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Hồng Pha - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 02 năm 2025, tại Phòng xử án Toà án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 319/2024/TLST-HNGĐ ngày 24/10/2024 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/01/2025, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị Ú, sinh năm 1989; Địa chỉ: Số A, Lê Văn T, Tổ G, Ấp A, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Địa chỉ liên hệ: Số A, đường D, khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1983; Địa chỉ: Số C, ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (Vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngô Thị Ú trình bày:
+ Về quan hệ hôn nhân: Chị Ú và anh Nguyễn Văn S quen biết, tìm hiểu nhau khoảng 06 tháng và quyết định tiến tới hôn nhân nên được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới vào năm 2014. Đến ngày 19/6/2014, chị Ú và anh S cùng đến Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp để đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Chị Ú với anh S chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do anh S đi làm thường xuyên uống rượu, bia và sau khi uống rượu, bia thì chửi mắng, đánh đập chị Ú, các con, thậm chí còn xúc phạm đến gia đình chị Ú và khi con bệnh anh S cũng không quan tâm, chăm sóc. Mặc dù, chị Ú đã nhiều lần khuyên ngăn anh S lo làm ăn nhưng anh S vẫn không sửa đổi. Từ đó, chị Ú và anh S sống ly thân với nhau từ khoảng tháng 10/2021 cho đến nay. Hơn nữa, trước đây, chị Ú có nộp đơn khởi kiện xin ly hôn với anh S tại Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò 02 lần, nhưng gia đình anh S khuyên chị Ú cho anh S cơ hội để sửa đổi nên chị Ú rút lại đơn khởi kiện nhưng anh S không thay đổi. Hiện nay, chị Ú khẳng định đã không còn tình cảm vợ chồng với anh S nên yêu cầu được ly hôn với anh S.
+ Về con chung: Trong thời gian chung sống, chị Ú với anh S có 02 người con chung tên Nguyễn Trí T1, sinh ngày 30/4/2015 và Nguyễn Anh T2, sinh ngày 05/12/2018 đang do chị Ú trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Ú yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng các cháu T1, T2 và không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Chị Ú không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đối với bị đơn Nguyễn Văn S: Anh S đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, bản phô tô đơn khởi kiện của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện. Đồng thời, Tòa án cũng đã triệu tập hợp lệ anh S để tiến hành làm việc, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử nhưng vẫn vắng mặt không có lý do; không có ý kiến phản bác, không cung cấp tài liệu, chứng cứ và cũng không có yêu cầu phản tố trong vụ án.
- Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đầy đủ và đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, đối với bị đơn không chấp hành sự triệu tập của Toà án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Qua quá trình tranh tụng tại phiên tòa và trên cơ sở phân tích, đánh giá chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị Út .
+ Về hôn nhân: Cho chị Ngô Thị Ú với anh Nguyễn Văn S ly hôn. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trí T1, sinh ngày 30/4/2015 và Nguyễn Anh T2, sinh ngày 05/12/2018 cho chị Ú tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về sự vắng mặt của đương sự: Xét thấy, nguyên đơn Ngô Thị Ú có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và bị đơn Nguyễn Văn S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về hôn nhân: Chị Ú và anh S kết hôn năm 2014 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L vào ngày 19/6/2014 theo đúng quy định của pháp luật, nên hôn nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
Chị Ú cho rằng, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa chị Ú với anh S là do anh S đi làm thường xuyên uống rượu, bia và sau khi uống rượu, bia thì chửi mắng, đánh đập chị Ú, các con, thậm chí còn xúc phạm đến gia đình chị Ú và khi con bệnh anh S cũng không quan tâm, chăm sóc cùng với chị Ú. Mặc dù, chị Ú đã nhiều lần khuyên ngăn anh S lo làm ăn nhưng anh S vẫn không sửa đổi. Từ đó, chị Ú và anh S sống ly thân với nhau từ khoảng tháng 10/2021 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, chị Ú với anh S không có giải pháp hàn gắn lại được tình cảm với nhau. Hơn nữa, trước đây, chị Ú có nộp đơn khởi kiện xin ly hôn với anh S tại Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò 02 lần, nhưng gia đình anh S khuyên chị Ú cho anh S cơ hội để sửa đổi nên chị Ú rút lại đơn khởi kiện nhưng anh S vẫn không thay đổi.
Xét thấy, giữa chị Ú với anh S là có phát sinh mâu thuẫn. Điều này được thể hiện thông qua việc: Trong suốt quá trình làm việc, mặc dù Tòa án đã kiên trì hòa giải, động viên nhiều lần để chị Ú với anh S hàn gắn lại tình cảm, đoàn tụ để nuôi dạy con, nhưng chị Ú vẫn cương quyết xin ly hôn với anh S. Mặt khác, kể từ khi chị Ú nộp đơn khởi kiện đến nay, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh S để nhằm tiến hành hòa giải, động viên để chị Ú với anh S có thể hàn gắn lại tình cảm, đoàn tụ và chung sống lại với nhau, nhưng anh S lại không chấp hành sự triệu tập của Tòa án. Điều đó chứng tỏ rằng, anh S đã không có ý định muốn hàn gắn lại tình cảm với chị Ú. Ngoài ra, chị Ú với anh S đã sống ly thân với nhau từ năm 2021 đến nay, mà các bên vẫn không có giải pháp để hàn gắn lại tình cảm, để đoàn tụ nuôi dạy con. Hơn nữa, chị Ú cũng đã khởi kiện yêu cầu ly hôn với S 02 lần nhưng đã rút lại đơn khởi kiện, để chị Ú với anh S có cơ hội hàn gắn lại tình cảm với nhau, cùng nhau nuôi dạy các con nhưng đến nay các bên vẫn không hàn gắn lại được tình cảm với nhau. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy, mâu thuẫn giữa chị Ú với anh S là thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không thể đạt được.
Chính vì vậy, việc chị Ú khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh S đã thỏa mãn các điều kiện về căn cứ cho ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Đối với cháu Nguyễn Trí T1, sinh ngày 30/4/2015, tính đến nay đã hơn 07 tuổi, đang do chị Ú trực tiếp nuôi dưỡng và có văn bản thể hiện nguyện vọng mong muốn được sống chung với chị Ú; còn cháu Nguyễn Anh T2, sinh ngày 05/12/2018 cũng đang được chị Ú trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét thấy, từ trước đến nay, chị Ú cũng đã trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng chu đáo cho các cháu T1, T2 và các cháu cũng đã phát triển tốt. Điều này, chứng tỏ chị Ú có đủ điều kiện để có thể trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục tốt cho các cháu T1 và T2. Hơn nữa, để đảm bảo sự ổn định, tránh gây sự xáo trộn về đời sống có thể dẫn đến ảnh hưởng về mặt tâm sinh lý của các cháu T1 và T2. Vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất giao các cháu T1 và T2 cho chị Ú tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 và khoản 1 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Xét thấy, lẽ ra người không trực tiếp nuôi con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, chị Ú là người trực tiếp nuôi con nhưng không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con và anh S vắng mặt từ khi Tòa án thụ lý cho đến khi xét xử và cũng không có văn bản ý kiến thể hiện sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Ú không yêu cầu giải quyết; còn anh S vắng mặt từ khi Tòa án thụ lý cho đến khi xét xử và cũng không có văn bản ý kiến hoặc yêu cầu phản tố để chia tài sản chung và nợ chung. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết là đảm bảo quyền tự quyết và định đoạt của đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Từ những phân tích nêu trên cho thấy, phát biểu về việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Chị Ú là nguyên đơn trong vụ án ly hôn và không thuộc trường hợp không phải chịu hoặc miễn, giảm án phí theo quy định tại các điều 11, 12, 13 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do đó, chị Ú phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Về quyền kháng cáo: Chị Ú và anh S đều vắng mặt tại phiên tòa, nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự được quy định tại các điều 271, 272 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Ngô Thị Út .
1.1. Về hôn nhân: Cho chị Ngô Thị Ú được ly hôn với anh Nguyễn Văn S.
1.2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Trí T1, sinh ngày 30/4/2015 và Nguyễn Anh T2, sinh ngày 05/12/2018 cho chị Ngô Thị Ú tiếp tục nuôi dưỡng (Các cháu T1 và T2 đang do chị Ú trực tiếp nuôi dưỡng).
Anh Nguyễn Văn S được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Chị Ngô Thị Ú cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở. Anh Nguyễn Văn S không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
1.3. Về cấp dưỡng: Không xem xét giải quyết.
1.4. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.
2. Về án phí và tạm ứng án phí: Chị Ngô Thị Ú phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ từ số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà chị Ú đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015153, ngày 24/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp. Chị Ú đã thực hiện xong.
3. Về quyền kháng cáo: Chị Ngô Thị Ú và anh Nguyễn Văn S có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
4. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND huyện Lấp Vò; - Chi cục THADS huyện Lấp Vò; - UBND xã Định Yên (Giấy chứng nhận kết hôn số 083/2014, quyển số 01, đăng ký ngày 19/6/2014); - Các đương sự; - Lưu: HSVA, VT (Nh). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thành Nhân |