- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Th - V"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Th
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2025/HNGĐ- ST Ngày: 25/3/2025 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Trương Thị Hương;
2/ Ông Nguyễn Văn Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Minh Ngân là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Lý Tường Vy - Kiểm sát viên.
Ngày 25/3/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 138/2024/TLST- HNGĐ, ngày 14 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST - HNGĐ, ngày 05/02/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 20/2025/QĐST- HNGĐ, ngày 04/3/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi; giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1988
Bị đơn: Anh Nguyễn Đức V, sinh năm 1985
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố T, phường Ph, thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
(Nguyên đơn có Đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 01/10/2024 và các lời khai tại Tòa nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Th trình bày:
Chị với anh V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn năm 2007 tại UBND phường P, sau khi kết hôn vợ chồng chị sống rất hạnh phúc những sau đó anh V không lo làm ăn, lún vào con đường cờ bạc về kiếm chuyện và đánh đập chị nhiều lần, chị cố gắng vì các con nhưng hết lần này đến lần khác, anh V không thay đổi gì nên từ tháng 3 năm 2020 vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm ai. Nay, tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh V để ổn định cuộc sống lo cho con
Trong thời kỳ hôn nhân, chị và anh V có hai con chung Nguyễn Ngọc Như Q, sinh ngày 21/5/2008 và Nguyễn Phước Th, sinh ngày 12/11/2013; chị đang nuôi hai con; khi ly hôn chị yêu cầu nuôi cả hai con và không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng cho con.
Tài sản chung, nợ chung: Chị Th trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Đức V: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh V nhưng anh V không đến Tòa, không trình bày ý kiến.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật; nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo đúng quy định của pháp luật; riêng bị đơn thực hiện không đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị HĐXX cho chị Th được ly hôn anh V; về con chung: Giao hai con chung Nguyễn Ngọc Như Q, sinh ngày 21/5/2008 và Nguyễn Phước Th, sinh ngày 12/11/2013 cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng; chị Th không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng cho con; về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu. Ngoài ra, đương sự còn chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền: Chị Nguyễn Thị Th khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Đức V; cư trú tại: Tổ dân phố T, phường P, thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn là anh Nguyễn Đức V các văn bản tố tụng gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 175 và Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự. Mặc dù, anh V biết Tòa án đang giải quyết vụ án ly hôn mà anh là bị đơn nhưng anh vắng mặt và không thực hiện nghĩa vụ chứng minh. Anh V phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Đức V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Th và anh Nguyễn Đức V kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi vào năm 2007. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị Th và anh V là hợp pháp.
Nguyên nhân mâu thuẫn: Chị Th cho rằng giữa chị và anh V thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh V không lo làm ăn, không có trách nhiệm với gia đình vợ, con; thực tế anh, chị đã ly thân từ năm 2020, không ai quan tâm ai. Chị Th yêu cầu ly hôn nhưng anh V không đến Tòa và không có ý kiến gì, có ý bỏ mặc. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân của chị Th và anh V đã trở nên trầm trọng, kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị Th là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được HĐXX chấp nhận.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng chị Th và anh V có hai con chung Nguyễn Ngọc Như Q, sinh ngày 21/5/2008 và Nguyễn Phước Th, sinh ngày 12/11/2013. Khi ly hôn chị Th yêu cầu được nuôi cả hai con và không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng cho con.
HĐXX xét thấy: Chị Th đang nuôi con ổn định, các con có nguyện vọng được ở với mẹ trong khi đó anh V không có ý kiến về phần con chung. Căn cứ vào Khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình cần giao con Nguyễn Ngọc Như Q, sinh ngày 21/5/2008 và Nguyễn Phước Th, sinh ngày 12/11/2013 cho chị Th tiếp tục nuôi dưỡng là hợp pháp và hợp lý.
Về cấp dưỡng cho con: Chị Th không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng cho con, nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Th trình bày không có, không yêu cầu nên HĐXX không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Vì vậy, căn cứ vào Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 6, Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, chị Th phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm nhưng chị Th đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000đ nên được khấu trừ xong.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147 và các Điều 227, 228, 235, 238, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Th
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Th được ly hôn anh Nguyễn Đức V.
2. Về con chung: Giao con Nguyễn Ngọc Như Q, sinh ngày 21/5/2008 và Nguyễn Phước Th, sinh ngày 12/11/2013 cho chị Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Th không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng cho con.
Anh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, Không yêu cầu nên HĐXX không giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Th phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004275 ngày 11/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi nên được khấu trừ xong.
5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND thị xã Đức Phổ; - Chi cục THADS thị xã Đức Phổ; - Các đương sự; - UBND phường Phổ Văn; - Lưu hồ sơ vụ án. Các thành viên Hội đồng xét xử | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bích Vân Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |