- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bà Phan Thị Kim O"
- Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 118 Bộ luật Dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO TỈNH ĐĂK LĂK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2025/DS-ST Ngày: 20 - 3 - 2025 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H’LEO, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Năng Quân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Tiến Linh
2. Ông Lương Tú Huân
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Công Đức - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo tham gia phiên tòa: Ông Trương Công Luật - Chức vụ: Kiểm sát viên
Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 336/2024/TLST-DS, ngày 26 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXX-ST, ngày 05 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị Kim O; trú tại: TDP 10, thị trấn Ea D, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt
2. Bị đơn: Bà Tô Thị Thúy D; trú tại: TDP 14, thị trấn Ea D, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt
3. Người làm chứng:
3.1. Bà Ngô Thị L; trú tại: Thôn Th, xã Ea S, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt
3.2. Bà Nguyễn Thị L; trú tại: Tổ dân phố 14, thị trấn Ea D, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 07 tháng 10 năm 2024, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa bà Phan Thị Kim O trình bày:
Ngày 11 tháng 11 năm 2023 (Dương lịch) bà Phan Thị Kim O có cho bà Tô Thị Thúy D vay số tiền 45.000.000 đồng, bà D có ký tên và điểm chỉ vào Giấy mượn tiền, mục đích vay để lo công việc gia đình, bà D hẹn đến ngày 11/3/2024 (dương lịch) sẽ trả số tiền trên cho bà O, hai bên thỏa thuận lãi suất 1.500 đồng/1triệu/ngày. Tuy nhiên, từ đó đến nay bà D không trả cho bà O được khoản tiền gốc và tiền lãi suất nào dù bà O đã đòi nhiều lần. Nay bà O khởi kiện chỉ yêu cầu bà D trả số tiền gốc 45.000.000 đồng, còn tiền lãi suất thì bà O không yêu cầu.
Để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp bà Phan Thị Kim O giao nộp 01 Giấy mượn tiền đề ngày 11/11/2023 (dương lịch).
- Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa bị đơn bà Tô Thị Thúy D trình bày: Bà O yêu cầu bà D trả số tiền 45.000.000 đồng thì bà D không đồng ý vì bà D chỉ vay bà O số tiền 10.000.000 đồng, còn số tiền 45.000.000 đồng thì bà D không vay của bà O, khi bà D vay số tiền 10.000.000 đồng của bà O, thì bà O nói bà D ký tên và điểm chỉ vào giấy mượn tiền chưa có nội dung, sau khi bà D ký tên và điểm chỉ thì bà O tự viết nội dụng vào giấy mượn tiền nên mới có nội dung bà D vay của bà O số tiền 45.000.000 đồng, tại thời điểm bà D ký tên và điểm chỉ vào giấy mượn tiền chưa có người làm chứng, bà D ký tên và điểm chỉ là tự nguyện, minh mẫn, không ai ép buộc, nhưng do tin tưởng bà O, nên bà D mới ký tên, điểm chỉ vào giấy mượn tiền.
- Người làm chứng bà Ngô Thị L trình bày: Ngày 11/11/2023 bà L có dẫn bà D lên nhà bà O để bà D vay bà O số tiền 45.000.000 đồng. Việc vay tiền tại nhà bà O, bà L có ký vào Giấy vay tiền với tư cách là người làm chứng. Ngoài nội dung trên thì bà L không biết gì thêm.
Phát biểu của Kiểm sát viên về quá trình giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa; căn cứ Điều 463, Điều 465, Điều 466 và Điều 470 Bộ luật Dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Kim O.
Buộc bà Tô Thị Thúy D phải có nghĩa vụ trả cho bà Phan Thị Kim O số tiền 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng).
Ngoài ra, bà Tô Thị Thúy D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về thủ tục tố tụng:
. Về quan hệ pháp luật: Bà Phan Thị Kim O khởi kiện yêu cầu bà Tô Thị Thúy D phải trả số tiền 45.000.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 463 Bộ luật Dân sự.
. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn bà Tô Thị Thúy D có nơi cư tại tổ dân phố 14, thị trấn Ea D, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về sự vắng mặt những người làm chứng: Tại phiên tòa bà Ngô Thị L và bà Nguyễn Thị L vắng mặt lần thứ hai. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo khoản 2 Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về nội dung tranh chấp: Bà Phan Thị Kim O yêu cầu bà Tô Thị Thúy D trả số tiền 45.000.000 đồng, không yêu cầu lãi suất. Tuy nhiên, bà D không đồng ý. Vì vậy, Hội đồng xét xử chỉ xem xét và giải quyết trong phạm vi yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Kim O là phù hợp với Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Tô Thị Thúy D thừa nhận tại Giấy mượn tiền đề ngày 11/11/2023 (dương lịch) là chữ ký và điểm của bà D. Vì vậy, đây là những tình tiết, sự kiện có thật không phải chứng minh theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bà D cho rằng về nội dung được ghi trong Giấy mượn tiền là do bà O tự viết vào sau khi bà D ký và điểm chỉ, nên bà D không đồng ý trả số tiền 45.000.000 đồng cho bà O. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa xét thấy, nguyên đơn phải có nghĩa vụ chứng minh yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ, còn bị đơn phải có nghĩa vụ chứng minh cho ý kiến của mình là có căn cứ và hợp pháp. Quá trình giải vụ án nguyên đơn đã cung cấp chứng cứ là “Giấy mượn tiền” do bị đơn ký và điểm chỉ thể hiện bị đơn có vay của nguyên đơn số tiền 45.000.000 đồng, nên bà O đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại Điều 6, Điều 91, Điều 93, Điều 94 và Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự. Mặt khác, trong Giấy mượn tiền đề ngày 11/11/2023 (dương lịch) không có nội dung hoặc mục nào thể hiện bà D có vay của bà O số tiền 10.000.000 đồng như lời khai của bị đơn, đồng thời bà D thừa nhận tại Giấy mượn tiền là chữ ký và điểm chỉ của bà D, nhưng bà D không thừa nhận vay của bà O số tiền 45.000.000 đồng. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà D không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh ý kiến của mình là có căn cứ và hợp pháp, tại khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó”. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận ý kiến của bà D.
Từ những nhận định và phân tích nêu trên, có đủ căn cứ để nhận định giữa bà O và bà D có xác lập quan hệ vay tài sản với nhau, dưới hình thức “Giấy mượn tiền” có kỳ hạn và có lãi, các bên xác lập quan hệ vay tài sản là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật về hình thức, điều kiện, mục đích, nội dung của hợp đồng dân sự được quy định tại Điều 117, Điều 118, Điều 119 và Điều 463 Bộ luật Dân sự. Do đó, hợp đồng vay tài sản được xác lập giữa các đương sự là hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên, nay bà D đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay tài sản, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi hợp pháp của bà O. Vì vậy, xét yêu cầu khởi kiện của bà O là có căn cứ, nên chấp nhận. Buộc bà Tô Thị Thúy D phải có nghĩa vụ trả cho bà Phan Thị Kim O số tiền 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng).
Bà Diễm cho rằng bà D chỉ vay bà O số tiền 10.000.000 đồng. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy, số tiền này đã được giải quyết trong Bản án số: 117/2024/HS-ST, ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo, nên không xem xét giải quyết.
Xét thấy, phát biểu của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.
. Về án phí dân sự: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về điều luật áp dụng: Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 280, Điều 463, Điều 465, Điều 466 và Điều 470 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Kim O đối với bà Tô Thị Thúy Dvề việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Buộc bà Tô Thị Thúy D phải có nghĩa vụ trả cho bà Phan Thị Kim O số tiền 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành khoản tiền trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
3. Về án phí dân sự: Bà Tô Thị Thúy D phải chịu số tiền 2.250.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho bà Phan Thị Kim O số tiền 1.125.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea H'Leo, theo biên lai số: 0002361, ngày 11 tháng 10 năm 2024.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà Phan Thị Kim O và bà Tô Thị Thúy D có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện KSND huyện Ea H’Leo; - Chi cục THADS huyện Ea H’Leo; - TAND tỉnh Đăk Lăk; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Năng Quân |