- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Nguyên đơn Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam với bị đơn Cao Văn Tấn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc Cao Văn Tấn và Châu Thị Nguyệt cùng có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam tổng số tiền 87.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:09/2025/DS-ST Ngày: 13 - 01 - 2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHỤNG HIỆP, TỈNH HẬU GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Liêm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà: Nguyễn Thị Hồng Loan;
2. Ông: Nguyễn Văn Dương.
-Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Cẩm Giang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
Ngày 13 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 191/2024/TLST-DS, ngày 03 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 193/2024/QĐXX-ST, ngày 19 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam.
Địa chỉ: số 169, phố Linh Đường, Hoàng Liệt, Hoàng Mai, Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: ông Dương Quyết Thắng, chức vụ: Tổng giám đốc.
Người được ủy quyền khởi kiện: Ông Phạm Công Thảo, chức vụ: Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Đinh Công Toàn, chức vụ: Phó Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
2. Bị đơn: Cao Văn Tấn, sinh năm 1985.
Địa chỉ: ấp Mỹ Quới B, thị trấn Cây Dương, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Châu Thị Nguyệt.
Địa chỉ: ấp Mỹ Quới B, thị trấn Cây Dương, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
Đại diện nguyên đơn có mặt, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án đại diện nguyên đơn trình bày:
1. Khoản vay thứ nhất: Ngày 05/02/2021, Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội (Gọi tắt là Ngân hàng) có cho bị đơn Cao Văn Tấn (Được Châu Thị Nguyệt ủy quyền) vay vốn theo đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay và sổ vay vốn có mã món vay: 6600000719592495, cụ thể như sau:
- Số tiền vay: 20.000.000 đồng; Mục đích vay: Khoan cây nước, xây nhà vệ sinh;
- Thời hạn vay: 60 tháng (Từ ngày 05/02/2021 đến ngày 05/02/2026);
- Lãi suất cho vay: 9%/năm cố định trong suốt thời gian cho vay; Lãi suất nợ quá hạn: Bằng 130% lãi suất trong hạn:
- Lãi suất áp dụng hiện tại: 9%/năm;
- Lịch trả nợ gốc và lãi: Trả nợ gốc 06 tháng/lần và lãi định kỳ vào ngày 12 hàng tháng;
- Tài sản đảm bảo tiền vay: Không có bảo đảm bằng tài sản (Thông qua ủy thác của Hội cựu chiến binh thị trấn Cây Dương, huyện Phụng Hiệp).
Từ ngày vay đến nay bị đơn đã trả cho Ngân hàng 1.834.522 đồng tiền lãi, chưa trả nợ gốc.
Đối với khoản vay này bị đơn còn thiếu tổng số tiền 25.256.985 đồng. Trong đó nợ gốc: 20.000.000 đồng và lãi suất tính đến ngày 13/01/2025 là 5.256.985 đồng.
2. Khoản vay thứ hai: Ngày 22/3/2019, Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội (Gọi tắt là Ngân hàng) có cho bị đơn Cao Văn Tấn (Được Châu Thị Nguyệt ủy quyền) vay vốn theo đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay và sổ vay vốn có mã món vay: 6600000714869361, cụ thể như sau:
- Số tiền vay: 50.000.000 đồng; Mục đích vay: Chăn nuôi heo sinh sản;
- Thời hạn vay: 36 tháng (Từ ngày22/3/2019 đến ngày 22/3/2022);
- Lãi suất cho vay: 6,6%/năm cố định trong suốt thời gian cho vay;
- Lãi suất nợ quá hạn: Bằng 130% lãi suất trong hạn:
- Lãi suất áp dụng hiện tại: 8,58%/năm;
- Lịch trả nợ gốc và lãi: Trả nợ gốc 12 tháng/lần và lãi định kỳ vào ngày 12 hàng tháng;
- Tài sản đảm bảo tiền vay: Không có bảo đảm bằng tài sản (Thông qua ủy thác của Hội cựu chiến binh thị trấn Cây Dương, huyện Phụng Hiệp).
Từ ngày vay đến nay bị đơn đã trả cho Ngân hàng 10.098.906 đồng tiền lãi, chưa trả nợ gốc.
Đối với khoản vay này bị đơn còn thiếu tổng số tiền 61.892.656 đồng. Trong đó nợ gốc: 50.000.000 đồng và lãi suất tính đến ngày 13/01/2025 là 11.892.656 đồng.
Từ ngày 22/3/2022, bị đơn không thanh toán nợ nợ đúng hạn theo thỏa thuận nên Ngân hàng đã chuyển dư nợ vay của bị đơn sang nợ quá hạn.
Ngân hàng hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc bị đơn Cao Văn Tấn và Châu Thị Nguyệt (Vì chị Nguyệt đã ủy quyền cho anh Tấn) cùng có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng hàng tổng số tiền của hai khoản vay trên là 87.149.641 đồng. Trong đó nợ gốc: 70.000.000 đồng, lãi suấy tính đến ngày 13/01/2025 là 17.149.641 đồng. Đồng thời phải chịu lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ cho Ngân hàng.
Bị đơn Cao Văn Tấn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Châu Thị Nguyệt vắng mặt nên không có lời trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự được quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Cao Văn Tấn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Châu Thị Nguyệt được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, vắng mặt không lý do nhưng không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử mở phiên tòa xét xử vắng mặt đối với các đương sự này.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng: thông qua ủy thác của Hội Cựu chiến binh thị trấn Cây Dương, huyện Phụng Hiệp. Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Phụng Hiệp có cho Cao Văn Tấn vay tiền theo hai hợp đồng tín dụng được ký kết ngày 22/3/2019, vay 50.000.000 đồng và hợp đồng ngày 05/02/2021, vay 20.000.000 đồng. Sau khi vay thì bị đơn chỉ đóng được hai khoản lãi là 1.834.522 đồng và 10.098.906 đồng và không tiếp tục đóng lãi. Về nợ gốc thì chưa trả. Cho nên Ngân hàng yêu cầu trả nợ gốc của hai khoản vay 70.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.
Về lãi suất các bên thỏa thuận 6,6%/năm và 9%/năm, lãi quá hạn bằng 130% lãi suất trong hạn. Xét lãi suất các bên thỏa thuận không vi phạm theo quy định Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 nên mức lãi suất này được áp dụng để giải quyết. Từ đó yêu cầu trả lãi suất của Ngân hàng là có căn cứ chấp nhận (Có bảng kê chi tiết tính lãi kèm theo hồ sơ).
Qua phân tích, đánh giá chứng cứ, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Về nghĩa vụ trả nợ: Xét Châu Thị Nguyệt có văn bản ủy quyền cho Cao Văn Tấn làm đại diện gia đình tham gia ký kết vay tiền với Ngân hàng thì phải cùng có nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng được giao kết. Từ đó có căn cứ buộc Cao Văn Tấn và Châu Thị Nguyệt cùng có nghĩa vụ trả Ngân hàng tổng số tiền của hai khoản vay là 87.149.641 đồng. Trong đó nợ gốc: 70.000.000 đồng, lãi suấy tính đến ngày 13 tháng 01 năm 2025 là 17.149.641 đồng (Đã khấu trừ số tiền lãi đã đóng). Đồng thời, phải chịu lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ cho Ngân hàng.
Án phí dân sự sơ thẩm: Cao Văn Tấn và Châu Thị Nguyệt phải nộp 5% đối với giá trị tài sản có nghĩa vụ đối với nguyên đơn:
87.149.641 đồng x 5% = 4.357.482 đồng.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015. Điều 463, 466 và 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017, tương ứng với các Điều 100, 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc Cao Văn Tấn và Châu Thị Nguyệt cùng có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam tổng số tiền 87.149.641đ (Tám mươi bảy triệu một trăm bốn mươi chín ngàn sáu trăm bốn mươi mốt đồng). Trong đó nợ gốc: 70.000.000đ (Bảy mươi triệu đồng). Lãi suấy tính đến ngày 13 tháng 01 năm 2025 là 17.149.641đ (Mười bảy triệu một trăm bốn mươi chín ngàn sáu trăm bốn mươi mốt đồng). Đồng thời, phải chịu lãi phát sinh cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ cho Ngân hàng.
Thời gian trả nợ do Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền giải quyết theo quy định pháp luật.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Cao Văn Tấn và Châu Thị Nguyệt phải nộp 4.357.482đ (Bốn triệu ba trăm năm mươi bảy ngàn bốn trăm tám mươi hai đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm Cao Văn Tấn và Châu Thị Nguyệt còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất giữa các bên thỏa thuận theo hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà Cao Văn Tấn và Châu Thị Nguyệt vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh HG; - VKSND huyện PH; - THA huyện PH; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Liêm |