- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hữu Song V - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần của gia đình bị hại.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 48 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAH’LEO TỈNH ĐĂKLĂK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2024/HSST Ngày: 01-02-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAH’LEO
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán chủ toạ phiên toà: ông Bùi Văn Long.
- Các hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Khắc Vũ và ông Lưu Văn Toan
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: bà Đặng Thị Hoà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H’Leo tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Khánh – kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 02 năm 2024 tại Phòng xử án - Toà án nhân dân Huyện EaH’Leo xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 83/2023/HSST, ngày 15 tháng 11 năm 2023 (phần trách nhiệm dân sự về yêu cầu bồi thường thiệt hại về tinh thần trong vụ án hình sự do bị cấp phúc thẩm huỷ, giao về xét xử lại) đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Hữu Song V; Giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1997, tại tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi cư trú: Buôn LB, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Họ và tên cha: Trần Hữu Th, sinh năm 1970; Họ và tên mẹ: Võ Thị Th, sinh năm 1976; Tiền sự, tiền án: Không;
Bị hại: Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1991 (đã chết); trú tại: Thôn EĐ, xã EN, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện hợp pháp bị hại:
1. Ông Nguyễn Văn C (cha của bị hại), vắng mặt;
2. Bà Tống Thị Kim O (mẹ của bị hại), có mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông C và bà O có ông Nguyễn Văn T – có mặt.
Cùng địa chỉ: Thôn EĐ, xã EN, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
3. Cháu Phạm Phong L, sinh ngày19/02/2013;
4. Cháu Phạm Hữu Quốc B, sinh ngày 27/02/2018;
5. Ông Phạm Hữu A, sinh năm 1979 (chồng bị hại), đồng thời là người đại diện theo pháp luật của cháu L và cháu B (cha đẻ của hai cháu), có mặt;
Địa chỉ: Thôn H, xã EN, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
- Bị đơn dân sự: Công ty TNHH Xây dựng và Dịch vụ vận tải E (sau đây viết tắt là Công ty TNHHXD&DVVT E). Địa chỉ: Thôn N, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo pháp luật: ông Võ Văn Ch - Chức vụ: Giám đốc, có mặt;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Hữu Th. Trú tại: Buôn LB, thị trấn ED, huyện EH, tỉnh Đắk Lắk - có mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện EaH’Leo truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Trần Hữu Song V, có giấy phép lái xe ô tô hạng C. Ngày 01/01/2021, bị cáo ký Hợp đồng lao động với Công ty Công ty TNHHXD&DVVT E, thời hạn 05 năm, công việc của Vũ là lái xe tải cho Công ty.Vào khoảng 09 giờ 45 phút ngày 29/01/2023, Vũ điều khiển xe ô tô biển số 47C - 126.79 của Công ty lưu thông trên đường Hồ Chí Minh, theo hướng từ tỉnh Gia Lai đi tỉnh Đắk Lắk. Khi đi đến đoạn đường km 1701 + 800, thuộc địa phận tổ dân phố 4, thị trấn Ea Drăng, huyện Ea H'Leo, V bật tín hiệu xi nhan để xin đường cho xe ô tô rẽ trái vào khu vực sân của cây xăng để quay đầu xe ô tô. Trong lúc xe ô tô đang chuyển hướng, V phát hiện thấy chị Nguyễn Thị Y điều khiển xe mô tô biển số 47P1 - 108.16 đang lưu thông trên phần đường của chị Y phía trước ngược chiều với chiều đi của mình, V bấm còi xe ô tô để báo hiệu nhưng không thấy chị Y có biện pháp xử lý an toàn và cho xe mô tô giảm tốc độ. Thấy chị Y không giảm tốc độ nhưng V cũng không nhường đường cho chị Y mà vẫn điều khiển xe ô tô qua đường, vì vậy xe mô tô của chị Y đã đâm vào phía bên phải phần đầu xe ô tô do V điều khiển. Hậu quả làm chị Y tử vong trên đường đi cấp cứu.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 58/GĐHS, ngày 13 tháng 02 năm 2023 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở y tế tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Nguyên nhân tử vong của chị Nguyễn Thị Y là suy hô hấp, suy tuần hoàn do sốc mất máu do chấn thương bụng kín nặng (vỡ lách; vỡ mạc treo ruột). Nhiều thương tích nặng khác (gãy kín 1/3 dưới 2 xương cẳng tay trái, gãy trật khớp cổ tay trái…) do tai nạn giao thông.
Trách nhiệm dân sự: gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường trước cho gia đình bị hại số tiền 120.000.000đ và trợ cấp nuôi 02 con của bị hại 150.000.000đ. Đại diện gia đình bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường tiền mai táng phí 120.000.000đ; tiền cấp dưỡng nuôi cha, mẹ của bị hại theo mức 1.000.000/người/tháng; tiền tổn thất tinh thần 100 lần mức lương cơ sở; bồi thường tiền xe mô tô bị hư hỏng 5.000.000đ và điện thoại bị hư hỏng 5.000.000đ.
Tại bản cáo trạng số 47/KSĐT- HS, ngày 26 tháng 6 năm 2023 truy tố bị cáo Trần Hữu Song V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ,” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 bộ luật hình sự.
Tại bản án số 55/2023/HSST ngày 15/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Ea H’Leo đã xử phạt bị cáo 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc bị cáo đã tự nguyện bồi thường một lần tiền cấp dưỡng nuôi con bị hại cho hai cháu Phạm Phong L, sinh ngày 19/02/2013 và Phạm Hữu Quốc B, sinh ngày 27/02/2018 là 150.000.000đ (Một trăm năm mươi triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày chị Y tử vong (01/01/2021) đến khi các cháu trưởng thành. Số tiền này ông Phạm Hữu A, là đại diện theo pháp luật của cháu Phạm Phong L và Phạm Hữu Quốc B đã trực tiếp nhận từ bị cáo.
Chấp nhận một phần yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại của gia đình bị hại.
- Buộc bị cáo phải bồi thường tiền tổn thất tinh thần cho cháu Phạm Phong L và Phạm Hữu Quốc B, mỗi cháu 45.000.000đ.
- Buộc bị cáo phải bồi thường cho ông Nguyễn Văn C và bà Tống Thị Kim O 140.000.000đ. Trong đó: Chi phí mai táng là 40.000.000đ, tiền tổn thất tinh thần là 90.000.000đ (mỗi người 45.000.000đ), bồi thường 01 điện thoại di động là 5.000.000đ, bồi thường 01 xe mô tô là 5.000.000đ.
Số tiền bị cáo phải bồi thường cho ông C và bà O được khấu trừ vào số tiền gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho ông Nguyễn Văn C và bà Tống Thị Kim O là 120.000.000đ, gồm các khoản: Chi phí mai táng là 40.000.000đ, tiền bồi thường tổn thất tinh thần là 70.000.000đ, tiền 01 điện thoại di động là 5.000.000đ, tiền 01 xe mô tô là 5.000.000đ. Bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho ông Nguyễn Văn C và bà Tống Thị Kim O, mỗi người 10.000.000đ tiền tổn thất tinh thần.
Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn C và bà Tống Thị Kim O, về việc yêu cầu bị cáo cấp dưỡng nuôi ông Nguyễn Văn C và bà Tống Thị Kim O, là bố mẹ của bị hại.
Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo Trần Hữu Song V đã kháng cáo một phần trách nhiệm dân sự, phần bồi thường tổn thất về tinh thần vì cho rằng mức bồi thường theo bản án án sơ thẩm là quá cao.
Tại bản án số 209/2023/HSPT ngày 25/10/2023 đã tuyên huỷ một phần trách nhiệm dân sự, phần bồi thường tổn thất về tinh thần, giao hồ sơ về cấp sơ thẩm để xét xử lại với Hội đồng xét xử khác.
Kết quả hỏi, tranh luận tại phiên tòa hôm nay:
Đại diện theo ủy quyền của ông C và bà O là anh Nguyễn Văn T yêu cầu bị cáo và Công ty Công ty TNHHXD&DVVT E phải bồi thường tiền tổn thất tinh thần cho những người ở hàng thừa kế thứ nhất của chị Y là 100 lần mức lương cơ sở. Yêu cầu chia đều cho từng người.
Ông Phạm Hữu A (chồng chị Y) không yêu cầu bị cáo và Công ty TNHHXD&DVVT E bồi thường tổn thất tinh thần cho mình mà chỉ yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần cho cháu B và cháu L, theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Trần Hữu Song V cho rằng gia đình bị hại yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần bằng 100 lần mức lương cơ sở là quá cao, bị cáo chỉ chấp nhận bồi thường tổng cộng 60 lần mức lương cơ sở, vì tai nạn xảy ra không phải do lỗi hoàn toàn của bị cáo mà người bị hại cũng có phần lỗi, trước khi điều khiền xe ô tô rẽ vào cây xăng bị cáo đã bật xi nhan xin đường và bóp còi khi thấy chị Yến điều khiến xe mô tô chạy ngược chiều phía trước nhưng bị hại không không quan sát không giảm tốc độ mà cứ điều khiển xe lao thẳng vào đầu xe ô tô của bị cáo.
Tại phiên tòa đại diện Công ty TNHHXD&DVVT E đề nghị HĐXX giải quyết phần trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà: Về phần trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng và một phần trách nhiệm dân sự đã được giải quyết tại bản án số 55/2023/HSST ngày 15/8/2023 không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành nên không xem xét lại. Phiên toà hôm nay chỉ xét xử lại một phần trách nhiệm dân sự do bị cáo kháng cáo và bị cấp phúc thẩm huỷ giao về xét xử lại là phần bồi thường thiệt hại về tinh thần. Xét mức yêu cầu bồi thường thiệt hại về tinh thần bằng 100 lần mức lương cơ sở là quá cao, vì trong vụ án này không phải lỗi hoàn toàn do bị cáo mà người bị hại cũng có một phần lỗi. Vì vậy, đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585, Điều 589; 591, 593, 597, 601 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo và Công ty Công ty TNHHXD&DVVT E bồi thường tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại 80 lần mức lương cơ sở.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Hội đồng xét xử chỉ xét xử lại một phần trách nhiệm dân sự đối với yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần, do bị cấp phúc thẩm huỷ án, còn các nội dung khác đã được giải quyết tại bản án số 55/2023/HSST ngày 15/8/2023 không có kháng cáo, kháng nghị và đã có hiệu lục thi hành.
. Về nội dung:
. Đối với yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần:
Việc ông Nguyễn Văn T và ông Phạm Hữu A yêu cầu bị cáo và Công ty Công ty TNHHXD&DVVT E phải bồi thường tổn thất về tinh là có căn cứ. Tuy nhiên mức yêu cầu bằng 100 lần mức lương cơ sở là quá cao, bởi lẽ lỗi dẫn đến tai nạn trong vụ án này được xác định là lỗi hỗn hợp, không phải hoàn toàn do lỗi của bị cáo mà người bị hại cũng có một phần lỗi, trước khi rẽ vào cây xăng bị cáo đã bật tín hiệu xi nhan xin rẽ và khi phát hiện phía trước có xe mô tô đi ngược chiều thì bị cáo đã bóp còi nhưng bị hại điều khiển mô tô thiếu quan sát không giảm tốc độ nên xảy ra va chạm. Vì vậy, HĐXX xác định 80% lỗi thuộc về bị cáo và 20% thuộc về người bị hại, nên chỉ chấp nhận mức bồi thường tổn thất về tinh thần bằng 80 lần mức lương cơ sở x 1.800.000đ = 144.000.000đ. Những người ở hàng thừa kết thứ nhất của chị Y, gồm: ông Nguyễn Văn C và bà Tống Thị Kim O (cha, mẹ của chị Y), các cháu Phạm Phong L và Phạm Hữu Quốc B (con đẻ của chị Y) và anh Phạm Hữu A chồng chị Y được hưởng khoản tiền này, nhưng ông A không yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần, nên số tiền này cần chia đều cho 4 người nói trên. Chia theo phần mỗi người được hưởng là 144.000.000đ/4 = 36.000.000đ. Như vậy, ông C và bà O được 72.000.000đ; cháu Phạm Phong L được bồi thường 36.000.000đ; cháu Phạm Hữu Quốc B được bồi thường 36.000.000đ.
Tuy nhiên, đối với phần của ông C và bà O thì sau khi tai nạn xảy ra gia đình bị cáo đã bồi thường trước cho ông C và bà O 120.000.000đ. Tại bản án số 55/2023/HSST của Toà án nhân dân huyện Ea H’Leo đã buộc bị cáo phải bồi thường 40.000.000đ tiền mai táng phí; 5.000.000đ tiền xe mô tô; 5.000.000đ tiền điện thoại di động bị hư hỏng, đã khấu trừ ba khoản này vào số tiền 120.000.000đ gia đình bị cáo đã đưa trước (phần này của bản án không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật), như vậy số tiền thừa còn lại là 120.000.000đ - 50.000.000đ = 70.000.000đ cần được tiếp tục khấu trừ vào số tiền tổn thất về tinh thần mà phía bị cáo và Công ty Công ty TNHHXD&DVVT E phải bồi thường cho ông C và bà O, cụ thể: 72.000.000 -70.000.000đ = 2.000.000đ. Như vậy, số còn lại phải tiếp tục bồi thường là 2.000.000đ (hai triệu đồng).
Do bị cáo là người của pháp nhân Công ty Công ty TNHHXD&DVVT E và gây tại nạn trong khi thực hiện nhiệm vụ được công ty giao, nên buộc Công ty Công ty TNHHXD&DVVT E phải có trách nhiệm bồi thường toàn bộ các khoản thiệt hại trên cho gia đình bị hại. Khi Công ty Công ty TNHHXD&DVVT E đã bồi thường thì có quyền yêu cầu bị cáo Trần Hữu Song V hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật.
. Về án phí: Buộc Công ty Công ty TNHHXD&DVVT E phải nộp 3.700.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585, Điều 589; 591, 593, 597, 601 Bộ luật dân sự. Bộ luật dân sự;
Chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường tổn thất về tinh thần của gia đình bị hại.
- Buộc Công ty Công ty TNHHXD&DVVT E phải bồi thường tiền tổn thất tinh thần cho ông Nguyễn Văn C và bà Tống Thị Kim O 72.000.000đ (bảy mươi hai triệu đồng). Được khấu trừ 70.000.000đ tiền thừa còn lại trong số tiền 120.000.000đ gia đình bị cáo đã đưa trước (bản án số 55/2023/HSST ngày 15/8/2023 đã khấu trừ 50.000.000đ, số còn lại 70.000.000đ). Như vậy, số tiền tổn thất về tinh thần còn phải tiếp tục bồi thường cho ông C và bà O là 72.000.000đ – 70.000.000đ = 2.000.000đ (hai triệu đồng).
- Buộc Công ty Công ty TNHHXD&DVVT E phải bồi thường tiền tổn thất tinh thần cho cháu Phạm Phong L 36.000.000đ (ba mươi sáu triệu đồng) và cháu Phạm Hữu Quốc B 36.000.000đ (ba mươi sáu triệu đồng).
Khi Công ty Công ty TNHHXD&DVVT E đã bồi thường thì có quyền yêu cầu bị cáo Trần Hữu Song Vũ hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Công ty Công ty TNHHXD&DVVT E phải nộp 3.700.000đ (ba triệu bảy trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đại diện hợp pháp của người bị hại; đại diện hợp pháp của các cháu L, B được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn dân sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. * Nơi nhận:
| - Bị cáo; - Các đương sự; - Công ty TNHHXD và DVVT E; - V KSND huyện Ea H’leo; - Cơ quan THAHS CA huyện Ea H’Leo; - Bộ phận HS nghiệp vụ CA huyện Ea H’Leo: - Chi cục THADS huyện E; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - Lưu HS, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Long |