vanban.org

Bản án 09/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 28/02/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Trần Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn C 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 25/12/2023. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn C phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Trần Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự và các điểm a; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2024/HS-ST
Ngày: 28-02-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Quách Thành Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hoan;

2. Ông Nguyễn Văn Đang.

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Thu Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Văn C, sinh ngày: 12/11/1993, tại huyện KS, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Xóm A, xã YL, huyện KS, tỉnh Ninh Bình; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; con ông Trần Văn Q và bà Trần Thị N; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 25/12/2023 đến ngày 03/01/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Tam Điệp và đến ngày 01/02/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình đến nay (có mặt).

Người chứng kiến: ông Dương Đức T (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy, khoảng 15 giờ 20 phút ngày 25/12/2023 Trần Văn C đi xe ôm đến khu vực đường quốc lộ 12B, thuộc thôn Đoàn Kết, xã Yên Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình để tìm mua ma túy về sử dụng. Đến nơi, C gặp 01 người đàn ông không quen biết, giống người nghiện và hỏi mua 01 gói ma túy heroine với giá 500.000 đồng thì người đàn ông đồng ý. C đưa tiền, người đàn ông đưa cho C 01 vỏ bao thuốc lá Sài Gòn màu bạc, tại vị trí giữa vỏ túi nilon bọc ngoài bao thuốc và vỏ bao thuốc có 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong là 01 túi nilon nhỏ màu trắng có viền đỏ ở một đầu, bên trong là chất bột dạng cục màu trắng. Sau khi bán ma túy cho C người đàn ông bỏ đi, C cầm vỏ bao thuốc lá có gói ma túy trên tay phải và đi bộ đến đứng ở vỉa hè đường quốc lộ 12B để bắt xe về nhà thì gặp tổ công tác Công an xã Yên Sơn, thành phố Tam Điệp đang tuần tra đảm bảo an ninh trật tự, phát hiện C có biểu hiện nghi vấn nên đến yêu cầu kiểm tra hành chính. Tại chỗ C khai báo tên, tuổi, địa chỉ, tổ công tác hỏi C có sử dụng ma túy không, C khai nhận bản thân là người sử dụng ma túy đồng thời giao nộp 01 vỏ bao thuốc lá Sài Gòn màu bạc đang cầm trên tay phải và khai báo ở bao thuốc lá có gói ma túy heroine vừa mua được để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác kiểm tra bao thuốc do C giao nộp bên trong bao thuốc không có điếu thuốc nào, tại vị trí giữa vỏ túi nilon bọc ngoài bao thuốc và vỏ bao thuốc có 01 gói bạc màu trắng, trong là 01 túi nilon nhỏ màu trắng có viền đỏ ở một đầu kích thước (3,8x2,5) cm, bên trong là chất bột dạng cục màu trắng. Tổ công tác đã tiến hành thu giữ và niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, sau đó đưa C về trụ sở Công an xã Yên Sơn tiến hành lập biên bản thu giữ niêm phong vật chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, rồi chuyển vụ việc đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp giải quyết theo thẩm quyền.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Điệp lấy chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của Trần Văn C ký hiệu M gửi đi giám định. Tại Bản kết luận giám định số 89/KL-KTHS-MT ngày 02 tháng 01 năm 2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Mẫu chất bột dạng cục màu trắng gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1618 gam, là ma túy, loại Heroine.

Heroine có tên khoa học là Diacetylmonrphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) và là chất ma túy thuộc danh mục IA, số thứ tự 9, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”.

Tại bản Cáo trạng số: 11/CT-VKSND-TPTĐ ngày 30 tháng 01 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Trần Văn C về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Trần Văn C từ 16 đến 19 tháng tù.

- Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy: số ma túy còn lại sau giám định, 01 vỏ túi nilon màu trắng có viền đỏ ở một đầu kích thước (3,8x2,5) cm; 01 mảnh giấy bạc màu trắng kích thước (7x6,8) cm; 01 vỏ bao thuốc lá Sài Gòn màu bạc.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn C đã khai nhận hành vi cất 01 túi ma túy loại Heroine để sử dụng cho bản thân bị Công an phát hiện bắt quả tang, diễn biến sự việc đúng như bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận bị truy tố là đúng người, đúng tội, đồng ý với luận tội của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án. Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị được giảm mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: khoảng 15 giờ 20 phút ngày 25/12/2023, tại khu vực đường quốc lộ 12B, thuộc thôn Đoàn Kết, xã Yên Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình, Trần Văn C đã có hành vi cất giữ 0,1618 gam ma túy loại Heroine để sử dụng cho bản thân.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi tàng trữ chất ma túy để sử dụng cho bản thân như đã nêu trên là trái phép, do cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý của nhà nước đối với chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an ở địa phương.

Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam

...”

Khối lượng ma túy Heroine bị cáo tàng trữ được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, do vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Trần Văn C đã thành khẩn khai báo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Xét tính chất hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, khối lượng, loại chất ma túy bị cáo tàng trữ trái phép và nhân thân của bị cáo thấy cần áp dụng mức hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian tương xứng với hành vi phạm tội, đủ nghiêm khắc để giáo dục, cải tạo, đồng thời đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Bị cáo phạm tội để phục vụ cho nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

Đối với số ma túy được hoàn trả sau giám định là vật cấm lưu hành; toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong, 01 vỏ túi nilon, 01 mảnh giấy bạc, 01 vỏ bao thuốc lá Sài Gòn màu bạc là vật không còn giá trị sử dụng nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

Về nguồn gốc ma túy: bị cáo khai đã mua của một người đàn ông không rõ lai lịch, địa chỉ nên không đủ cơ sở điều tra, xử lý là có căn cứ.

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố Tam Điệp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo Trần Văn C bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: bị cáo Trần Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt bị cáo Trần Văn C 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 25/12/2023.

3. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

Tịch thu tiêu hủy:

- Mẫu vật hoàn trả gồm: M=0,1075 gam là ma túy, loại Heroine. Toàn bộ vỏ bao gói niêm phong (được niêm phong trong 01 phong bì giấy dán kín mép niêm phong còn nguyên vẹn, bên ngoài ghi số 89/KL-KTHS-MT. Vụ Trần Văn C, sinh năm 1993, xảy ra ngày 25/12/2023 tại thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình. Mẫu vật hoàn trả gồm: M = 0,1075 gam là ma túy, loại Heroine (Heroin). Toàn bộ vỏ bao gói niêm phong);

- 01 vỏ túi nilon màu trắng có viền đỏ ở một đầu kích thước (3,8x2,5) cm (được niêm phong trong 01 phong bì giấy, bên ngoài ghi vật chứng lưu kho);

- 01 vỏ bao thuốc lá Sài Gòn màu bạc;

- 01 mảnh giấy bạc màu trắng có kích thước (7x6,8) cm.

(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập ngày 01/02/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Điệp và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp)

4. Về án phí: bị cáo Trần Văn C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ