vanban.org

Bản án 09/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam Tuyên án 24/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đậu Thị K phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Đậu Thị K 45 (bốn mươi lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 10 năm 2023. Xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đậu Thị K phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHỦ LÝ
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2024/HS-ST
Ngày 24 - 01 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuyên.

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Chương và ông Lê Chí Trung.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Hồng Liên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 155/2023/HSST ngày 29 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

Đậu Thị K, sinh năm 1987; tại tỉnh Nghệ An; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm ĐC, xã TH, huyện QH, tỉnh Nghệ An; chỗ ở: Phòng 2512 Chung cư MT, tổ 1, phường QT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Thổ; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đậu Văn Than (đã chết) và bà Trương Thị Hoa; chồng, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/10/2023 đến nay; hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; có mặt.

* Người chứng kiến:

1/ Anh Đặng Văn Gi, sinh năm 1990; vắng mặt.

2/ Ông Trương Đình L, sinh năm 1973; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ ngày 09/10/2023, Đậu Thị K muốn tìm mua ma túy để sử dụng. K đi bộ dọc đường bờ sông đến phía sau khu vực khách sạn Inco 515.9 thuộc tổ 1, phường Hai Bà Trưng, thành phố Phủ Lý thì gặp một nam thanh niên không quen biết, K hỏi người này “Có đồ bán không?”, ý K hỏi mua ma túy, người thanh niên trả lời “Chỉ có kem và cúc thôi”. K hiểu ý người này có ma túy để bán, K nói “Để cho chị bảy triệu tiền kem, cúc” rồi đưa cho người thanh niên số tiền 7.000.000 đồng, người thanh niên cầm tiền rồi đưa lại cho K 01 túi nilon bên trong chứa nhiều viên nén và 02 túi nilon bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng. K biết đó là ma túy cần mua nên cất vào túi quần sau đó đi về khách sạn Inco 515.9 tìm thuê phòng sử dụng ma túy. Đến khoảng 02 giờ 40 phút cùng ngày khi K đang đi ở hành lang khách sạn Inco 515.9 thì Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hà Nam phát hiện kiểm tra, bắt quả tang.

* Thu giữ tài sản, vật chứng gồm:

- 01 túi nilon trong suốt miệng túi có kẹp nhựa viền màu đỏ, bên trong chứa 10 viên nén không rõ hình màu tím và 02 túi nilon trong suốt miệng túi có kẹp nhựa viền màu xanh được niêm phong trong phong bì kí hiệu QT01.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, đã qua sử dụng.

Ngày 09/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Nam thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đậu Thị K tại phòng 2512 Chung cư MT, tổ 1, phường QT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan đến vụ án.

* Tại bản kết luận giám định số 717/KL-KTHS ngày 12/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Mẫu viên nén trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 4,046 g (Bốn phẩy không trăm bốn mươi sáu gam), loại Methamphetamine.

- Mẫu tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu QT01 giám định là ma túy, có khối lượng 0,498 g (Không phẩy bốn trăm chín mươi tám gam) loại Ketamine.

Tại bản kết luận giám định số 718/KL-KTHS ngày 12/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận:

“Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine, Ketamine trong mẫu nước tiểu ký hiệu NT01 gửi giám định”

Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKS-PL ngày 29/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã truy tố Đậu Thị K về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Đậu Thị K và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Đậu Thị K phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Đậu Thị K từ 42 đến 48 tháng tù được trừ thời gian đã tạm giữ, tạm giam; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của bị cáo được trả lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói; trả lại Đậu Thị K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone.

Tại phiên tòa, bị cáo Đậu Thị K đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa về hành vi phạm tội, mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Các chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ là hợp pháp.

Đối với người tham gia tố tụng là người chứng kiến mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định pháp luật.

Về tội danh: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đậu Thị K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã nêu. Lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 02 giờ 40 phút ngày 09/10/2023, tại khách sạn Inco 515.9 thuộc tổ 1, phường Hai Bà Trưng, thành phố Phủ Lý, Đậu Thị K đang cất giữ trái phép khối lượng 4,046 gam ma túy, loại Methamphetamine và 0,498 gam ma túy, loại Ketamine với mục đích để sử dụng thì bị Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy

- Công an tỉnh Hà nam phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo Đậu Thị K là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự nên Hội đồng xét xử cũng cân nhắc tình tiết này khi lượng hình.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc Thổ, ở địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt:

Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy và các chất gây nghiện, gây mất trật tự an toàn trong xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm nguy hiểm và hành vi vi phạm pháp luật khác, gây bất bình sâu sắc trong quần chúng nhân dân. Do vậy cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo chính bị cáo và phòng ngừa chung trong cộng đồng.

Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vấn đề khác của vụ án:

- Nguồn gốc số ma túy đã thu giữ của Đậu Thị K: K khai mua của một người thanh niên khoảng 20 tuổi, không biết tên, địa chỉ ở đâu tại khu vực đường bờ sông phía sau khách sạn Inco 515.9 thuộc tổ 1, phường Hai Bà Trưng, thành phố Phủ Lý với giá 7.000.000 đồng để sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý đã đấu tranh và phối hợp xác minh với Công an phường Hai Bà Trưng, song ngoài lời khai của K thì không còn chứng cứ, tài liệu nào khác. Do vậy không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

Đối với việc tìm thấy chất ma túy Methamphetamine, Ketamine trong mẫu nước tiểu của Đậu Thị K, quá trình điều tra đã xác định được ngày 07/10/2023, K có sử dụng trái phép chất ma túy là Methamphetamine và Ketamine. Công an thành phố Phủ Lý đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi trên của Đậu Thị K là phù hợp pháp luật.

Về vật chứng và tài sản đã thu giữ:

Đối với số ma túy loại: Methamphetamine và Ketamine thu giữ của Đậu Thị K là vật cấm tàng trữ, lưu hành do vậy cần tịch thu tiêu hủy cùng toàn bộ bao gói được hoàn trả sau giám định.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone là tài sản của K không liên quan đến vụ án, cần trả lại Đậu Thị K song tạm giữ lại điện thoại để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện quyền kháng cáo theo pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ các Điều 106, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Đậu Thị K phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt bị cáo Đậu Thị K 45 (bốn mươi lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 10 năm 2023.

3. Xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì đã niêm phong dán kín mặt trước có ghi mẫu vật hoàn trả QT01, số 717/KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam.

Trả lại Đậu Thị K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone được đựng trong phong bì đã niêm phong dán kín mặt trước có ghi ký hiệu ĐT01, nhưng giữ lại điện thoại để đảm bảo thi hành án.

Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý ngày 31/12/2023.

4. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Đậu Thị K phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ