- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Linh A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2024/HS-ST Ngày: 15/01/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Quang;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Tuấn và ông Dương Minh Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Vân - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Cẩm Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 01 năm 2024 tại phòng xét xử trực tuyến Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 370/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 344/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Linh A, sinh năm 1993 tại Tiền Giang; nơi đăng ký thường trú: huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T, sinh năm 1963; con bà Đào Thị Ngọc N, sinh năm 1969; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: - Bản án số 99 ngày 25/5/2011, Tòa án nhân dân Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 2 năm tù về tội trộm cắp tài sản;
- Bản án số 376 ngày 14/6/2011, Tòa án nhân dân Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 3 năm 6 tháng tù về tội cướp giật tài sản;
- Bản án số 180 ngày 15/9/2011, Tòa án nhân dân Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 6 tháng tù về tội không tố giác tội phạm. Tổng hợp hình phạt của Bản án số 99 ngày 25/5/2011 và Bản án số 376 ngày 14/6/2011, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của ba bản án là 6 năm tù. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/02/2016 và đã được xóa án tích.
Bị bắt quả tang ngày 24/9/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng ngày 19/9/2023 Trần Linh A đang ở khu vực Quận 8, thành phố Hồ Chí Minh mua của người không quen biết 5 viên ma túy kẹo và tinh thể ma túy đá để sử dụng. Đến ngày 20/9/2023 A ra Hà Nội chơi và tìm việc làm, qua mạng xã hội A quen biết người sử đụng tài khoản Mai Phạm và cùng hẹn đến ngõ 114 đường Cổ Nhuế, phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội để cùng nhau sử dụng ma túy. Đến khoảng 2 giờ 00 phút ngày 24/9/2023, A lấy ma túy đã mua trước đó cho vào lọ nhựa, cất giấu trong quần sịp đang mặc và đi taxi đến điểm hẹn. Đến khoảng 4 giờ 30 phút cùng ngày, khi A đang chờ Mai Phạm tại điểm hẹn thì bị bắt quả tang. Thu giữ của A 01 hộp nhựa màu xanh trắng hình trụ tròn bên trong chứa 5 viên nén màu đỏ và tinh thể màu trắng, 01 điện thoại di động Samsung lắp sim số 0705555056.
Kết luận giám định số 6500/KL-KTHS ngày 02/10/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội xác định: 01 hộp nhựa hình trụ tròn màu xanh trắng, cao 1,5cm, đường kính 3cm có: Tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 1,233gam và 05 viên nén màu đỏ đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng 0,498gam.
Quá trình điều tra, A khai nhận hình vi như trên, kết quả xét nghiệm tìm chất ma túy trong nước tiểu của A có sử dụng ma túy. Đối với người bán ma túy cho A và đối tượng tên Mai Phạm không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 256/CT-VKSBTL, ngày 29/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm đã truy tố Trần Linh A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và xin được giảm nhẹ hình phạt. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo A từ 24 đến 30 tháng tù; vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy ma túy, lọ nhựa; tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng được thu giữ, kết luận giám định, cùng các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 24/9/2023, tại khu vực trước ngõ 114 đường Cổ Nhuế, phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, Trần Linh A tàng trữ trái phép 1,731 gam ma túy Methamphetamine để sử dụng thị bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Vì vậy cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách phòng ngừa, ngăn chặn và kiểm soát tệ nạn ma tuý. Bị cáo biết ma túy tác hại xấu đến sức khỏe của con người, biết pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn mua về sử dụng tiếp tay cho tệ nạn ma túy, không những gây mất trật tự xã hội mà còn là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác nên cần áp dụng hình phạt tù để cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ:
- 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa ma túy đã giám định, bên ngoài có chữ ký giáp lai của Trần Linh A, cán bộ Công an và Giám định viên là vật cấm lưu hành và 01 hộp nhựa màu xanh trắng hình trụ tròn là phương tiện dùng vào việc phạm tội, không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động kiểu dáng Samsung màu đen, lắp sim số thuê bao 0705555056 là phương tiện dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
2. Tuyên bố: Bị cáo Trần Linh A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
3. Xử phạt: Bị cáo Trần Linh A 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/9/2023.
4. Xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 phong bì niêm phong bên trong chứa ma túy đã giám định, bên ngoài có chữ ký giáp lai của Trần Linh A, Giám định viên và cán bộ công an phường;
+ 01 hộp nhựa màu xanh trắng hình trụ tròn đường kính 3cm, cao 15cm đã qua sử dụng;
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động kiểu dáng Samsung màu đen, đã qua sử dụng, lắp sim số thuê bao 0705555056.
(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 89/24 ngày 12/12/2023 giữa Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm và Công an quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội).
5. Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. .
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TT lý lịch-Sở Tư pháp Hà Nội; - VKSND Q. Bắc Từ Liêm; - VKSND thành phố Hà Nội; - TAND thành phố Hà Nội;`` - Công an Q. Bắc Từ Liêm; - Chi cục THADS Q. Bắc Từ Liêm; - Lưu HS - VP | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hoàng Văn Quang |