vanban.org

Bản án 09/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định Tuyên án 12/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn Đ phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Văn Đ 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 10-12-2023 đến ngày 15-12-2023 là 05 ngày, được quy đổi thành 15 ngày cải tạo không giam giữ; bị cáo còn phải chấp hành 11 tháng 15 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn Đ và đồng bọn Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn Đ phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2024/HS-ST.
Ngày 12-3-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trường Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Định.

Ông Nguyễn Công Bằng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị ThThảo – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện V.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đức Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/QĐXXST - HS ngày 01-3-2024; đối với các bị cáo:

1. Đỗ Văn Đ, sinh năm 1982, tại Nam Định.

Nơi ĐKNKTT và nơi ở: thôn P C, xã T K, huyện V, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn C (Liệt sĩ); con bà Lại Thị C (đã chết); có vợ Lại Thị Y, sinh năm 1988 và 03 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 10-12-2023 đến ngày 15-12-2023, bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay “Có mặt”.

2. Đỗ Chung D, sinh năm 1985, tại Nam Định.

Nơi ĐKNKTT: thôn P C, xã T K, huyện V, tỉnh Nam Định; nơi ở hiện nay: Tổ 11, phường Bình Minh, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Duy H, sinh năm 1958; con bà Vũ Thị L, sinh năm 1965; có vợ là Hoàng Thị Ng, sinh năm 1992 và 02 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 10-12-2023 đến ngày 15-12-2023, bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay “Có mặt”.

3. Phạm Ngọc Th (tên gọi khác Phạm Ngọc Kh), sinh năm 1971, tại Tuyên Quang.

Nơi ĐKNKTT và nơi ở: thôn P C, xã T K, huyện V, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Ngọc Kh, sinh năm 1942; con bà Lại Thị M (đã chết); có vợ là Đỗ Thị H, sinh năm 1979 và 02 con; tiền án; tiền sự: không; Nhân thân: ngày 28-9-2022 có hành vi đánh bạc bằng hình thức liêng, Công an xã T K, huyện V, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm hành Ch (phạt tiền 1.500.000 đồng) theo quyết định số 537 ngày 03-10-2022; bị bắt tạm giữ từ ngày 10-12-2023 đến ngày 15-12-2023, bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay “Có mặt”.

4. Lại Ngọc Qu, sinh năm 1971, tại Nam Định.

Nơi ĐKNKTT và nơi ở: thôn P C, xã T K, huyện V, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lại Mạnh Nh (đã chết); con bà Phạm Thị Ng (đã chết); có vợ là Vũ Thị Y, sinh năm 1973 và 04 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 10-12-2023 đến ngày 15-12-2023, bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay “Có mặt”.

5. Phạm Văn Ch (tên gọi khác Phạm Văn B), sinh năm 1968, tại Nam Định.

Nơi ĐKNKTT và nơi ở: Tiểu khu 4, thị trấn Ít Ong, huyện M L, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Ch (đã chết); con bà Đỗ Thị Đ (đã chết); có vợ là Đỗ Thị V, sinh năm 1973 và 04 con; tiền án; tiền sự; nhân thân: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 10-12-2023 đến ngày 15-12-2023, bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay “Có mặt”.

- Người làm chứng: Ông Đỗ Duy H “Có mặt”.

- Người chứng kiến:

+ Anh Lại Văn L “Vắng mặt”.

+ Ông Mai Xuân H “Vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 09-12-2023, các đối tượng Đỗ Văn Đ, Phạm Ngọc Th, Đỗ Chung D, Lại Ngọc Qu và Phạm Văn Ch đến nhà ông Đỗ Duy H ở thôn P C, xã T K, huyện V, tỉnh Nam Định để ăn uống. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày sau khi ăn uống xong thì năm đối tượng trên cùng rủ nhau đánh bạc dưới hình thức đánh liêng ăn tiền. Lúc này mọi người trong nhà ông H và ông H đã đi ngủ, các đối tượng xuống bếp nhà ông H, tại đây chiếu đã được trải sẵn, Thlấy 01 bộ bài tú lơ khơ đang để sẵn trên cửa sổ nhà ông H để 05 người tham gia đánh bạc. Tất cả những người tham gia đánh bạc cùng thỏa thuận mức đặt cược thấp nhất là 10.000 đồng một ván mức tố cao nhất là 100.000 đồng. Cách chơi như sau với bộ bài tú lơ khơ 52 cây, chia mỗi người 03 cây bài rồi tính điểm, ai to nhất sẽ là người chia bài (người cầm cái), khi người cầm cái chia bài mỗi người 03 cây bài đồng thời mỗi người chơi góp vào chiếu bạc số tiền 10.000 đồng gọi là tiền cược, khi cược xong, người chia bài sẽ là người có quyền tố đầu tiên, sau đó theo thứ tự từ phải qua trái lần lượt đặt cược, ai không tham gia đặt cược sẽ bỏ bài không tham gia đánh nữa. Khi các bên thống nhất xong tiền cược bằng nhau và cùng ngửa bài, ai to hơn sẽ thắng và được cả số tiền có trên chiếu bạc ván chơi đó. Bài to nhất được tính ba cây giống nhau gọi là sáp theo thứ tự AAA, KKK,… 222. Sau đó đến liêng từ QKA,…,234, sau đó tính đến bài có tranh ảnh gồm các quân bài có ảnh của J, Q, K… cuối cùng là tính điểm cao nhất là 9 và thấp nhất là 0.

Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, khi những người chơi bạc đang sát phạt nhau thì bị tổ công tác Công an xã T K, huyện V phát hiện bắt quả tang Đỗ Văn Đ, Phạm Ngọc Th, Đỗ Chung D, Lại Ngọc Qu và Phạm Văn Ch đang đánh bạc ăn tiền bằng hình thức đánh liêng, thu giữ vật chứng sau:

+ Thu trên chiếu bạc số tiền sử dụng để đánh bạc là 3.070.000 đồng, 01 bộ tú lơ khơ 52 cây và 01 chiếc chiếu cói màu nâu.

+ Thu giữ bên trong túi quần của Nguyễn Văn Đ số tiền 4.000.000 đồng; 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy A10S. Đ khai nhận mang theo số tiền 5.000.000 đồng để đánh bạc, Đ có đưa cho D 400.000 đồng do lúc đó D không có tiền lẻ để chơi.

+ Thu giữ của Phạm Ngọc Th 01 chiếc điện thoại Nokia 105 màu đen. Th khai nhận mang theo 229.000 đồng và 500.000 đồng Ch trả cho Th trước đó Ch vay. Th đã dùng cả số tiền này để đánh bạc.

+ Thu giữ của Đỗ Chung D 01 điện thoại Vivo màu xanh đen. D khai nhận khi đi đánh bạc mang theo khoảng 500.000 đồng để đánh bạc và 400.000 đồng Đ đưa cho D để đánh bạc.

+ Thu giữ của Lại Ngọc Qu 01 điện thoại Nokia 105 màu đen. Qu khai nhận mang theo khoảng 500.000 đồng để đánh bạc.

+ Thu giữ của Phạm Văn Ch 01 điện thoại Redmi màu đen. Ch khai nhận mang theo 900.000 đồng, sau khi trả nợ Th500.000 đồng Ch vay trước đó Ch còn 400.000 đồng để đánh bạc.

Tại bản Cáo trạng số 08/CT-VKSVB ngày 22 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định truy tố các bị cáo Đỗ Văn Đ, Đỗ Chung D, Phạm Ngọc Th, Lại Ngọc Qu và Phạm Văn Ch về tội về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi đánh bạc ăn tiền như nội dung đã nêu trên và tỏ ra ăn năn hối cải.

Ông Đỗ Duy H xác định chiếc chiếu là của gia đình ông, còn bộ tú lơ khơ là của các cháu nhỏ; nay ông không có nguyện vọng nhận lại.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi đánh bạc của các bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đỗ Văn Đ, Đỗ Chung D, Phạm Ngọc Th(tên gọi khác Phạm Ngọc Kh), Lại Ngọc Qu và Phạm Văn Ch (tên gọi khác Phạm Văn B) phạm tội “Đánh bạc”.

- Về hình phạt:

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s, điểm x khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 36; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn Đ từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ; bị cáo được trừ 05 ngày tạm giữ trước đó.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 36; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

Bị cáo Đỗ Chung D từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ; bị cáo được trừ 05 ngày tạm giữ trước đó.

Bị cáo Phạm Ngọc Th (tên gọi khác Phạm Ngọc Kh) từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ; bị cáo được trừ 05 ngày tạm giữ trước đó.

Bị cáo Lại Ngọc Qu từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ; bị cáo được trừ 05 ngày tạm giữ trước đó.

Bị cáo Phạm Văn Ch (tên gọi khác Phạm Văn B) từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ; bị cáo được trừ 05 ngày tạm giữ trước đó.

- Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn khấu trừ một phần thu nhập cho các bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu cho tiêu hủy 01 bộ tú lơ khơ 52 cây và 01 chiếu cói màu nâu.

Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc 7.070.000 đồng.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về chứng cứ và tội danh đối với hành vi của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo được chứng minh bằng lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa cùng với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án như: Lời khai của các bị cáo, của người làm chứng, của người chứng kiến; vật chứng của vụ án đã thu giữ; cùng các tài liệu, chứng cứ khác. Nên, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận:

Khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 09-12-2023 tại nhà ông Đỗ Duy H, thôn P C, xã T K, huyện V, tỉnh Nam Định; Công an xã T K, huyện V bắt quả tang các đối tượng: Đỗ Văn Đ, Phạm Ngọc Th, Đỗ Chung D, Lại Ngọc Qu và Phạm Văn Ch đang đánh bạc bằng hình thức đánh liêng sát phạt nhau bằng tiền, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 3.070.000 đồng, 01 bộ tú lơ khơ 52 cây, 01 chiếu cói màu nâu, thu giữ trong người Đ số tiền 4.000.000 đồng Đ sử dụng để đánh bạc. Tổng số tiền các đối tượng dùng để sử dụng vào mục đích đánh bạc là 7.070.000 đồng. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định truy tố hành vi của các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật.

. Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng; gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Nên, buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình và việc đưa bị các cáo ra xét xử công khai, đối với các bị cáo là cần thiết nhằm góp phần trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm.

. Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

- Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt; riêng bị cáo Th (tức Kh) có nhân thân ngày 28-9-2022 có hành vi đánh bạc bằng hình thức liêng, Công an xã T K, huyện V, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm hành Ch, theo quyết định số 537 ngày 03-10-2022 (phạt tiền 1.500.000 đồng, bị cáo đã nộp đủ).

- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ:

Các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo quy định tại điểm i, s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với Đỗ Văn Đ được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “con liệt sĩ”, quy định tại điểm x, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra: Các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của Ch quyền địa phương. Nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

. Về đường lối xử lý đối với hành vi phạm tội của các bị cáo:

Trong vụ án này tất cả các bị cáo đều phạm tội với lỗi cố ý, với vai trò đồng phạm giản đơn. Nên khi xếp vị trí vai trò và lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét đến tính chất, mức độ tham gia của từng đồng phạm; căn cứ số tiền, số lần đánh bạc, các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo để xếp vị trí, vai trò cho từng bị cáo, theo thứ tự như sau: đối với bị cáo Đỗ Văn Đ sử dụng số tiền lớn nhất sau đó đến Đỗ Chung D và Phạm Ngọc Th, tiếp theo là Lại Ngọc Qu và Phạm Văn Ch.

Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân, động cơ, mục đích phạm tội của các bị cáo. Hội đồng xét thấy các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, nên không cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mà áp dụng Điều 36 của Bộ luật hình sự để xử phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

. Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập: Xét các bị cáo lao động tự do, đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Do đó, Hội đồng miễn hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ một phần thu nhập cho các bị cáo.

. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu cho tiêu hủy 01 bộ tú lơ khơ 52 cây và 01 chiếu cói màu nâu là công cụ, phương tiện dùng vào mục đích phạm tội.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc 7.070.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định 02 điện thoại Nokia 105 màu đen, 01 điện thoại Redmi màu đen, 01 điện thoại Vivo màu xanh đen, 01 điện thoại Samsung Galaxy A10S. Các vật chứng trên quá trình điều tra xác định không có liên quan đến hành vi đánh bạc; Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là đúng.

. Đối với chủ nhà là ông Đỗ Duy H, tối ngày 09-12-2023 ông H đã đi ngủ nên không biết việc các đối tượng đánh bạc tại nhà mình. Do vậy Cơ quan điều tra Công an huyện V không xem xét xử lý đối với ông Đỗ Duy H là có căn cứ. Quá trình tố tụng ông H cùng gia đình không yêu cầu và đề nghị gì, vì vậy xác định ông H là người làm chứng trong vụ án này.

. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s, điểm x khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự:

- Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn Đ phạm tội “Đánh bạc”.

- Xử phạt bị cáo Đỗ Văn Đ 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 10-12-2023 đến ngày 15-12-2023 là 05 ngày, được quy đổi thành 15 ngày cải tạo không giam giữ; bị cáo còn phải chấp hành 11 tháng 15 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện V, tỉnh Nam Định nhận được Quyết định thi hành án.

2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 36 của Bộ luật Hình sự:

- Tuyên bố các bị cáo Đỗ Chung D, Phạm Ngọc Th(tên gọi khác Phạm Ngọc Kh), Lại Ngọc Qu và Phạm Văn Ch (tên gọi khác Phạm Văn B) phạm tội “Đánh bạc”.

- Xử phạt bị cáo Đỗ Chung D 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 10-12-2023 đến ngày 15-12-2023 là 05 ngày, được quy đổi thành 15 ngày cải tạo không giam giữ; bị cáo còn phải chấp hành 08 tháng 15 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện V, tỉnh Nam Định nhận được Quyết định thi hành án.

- Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc Th(tên gọi khác Phạm Ngọc Kh) 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 10-12-2023 đến ngày 15-12-2023 là 05 ngày, được quy đổi thành 15 ngày cải tạo không giam giữ; bị cáo còn phải chấp hành 08 tháng 15 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện V, tỉnh Nam Định nhận được Quyết định thi hành án.

- Xử phạt bị cáo Lại Ngọc Qu 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 10-12-2023 đến ngày 15-12-2023 là 05 ngày, được quy đổi thành 15 ngày cải tạo không giam giữ; bị cáo còn phải chấp hành 05 tháng 15 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện V, tỉnh Nam Định nhận được Quyết định thi hành án.

- Xử phạt bị cáo Phạm Văn Ch (tên gọi khác Phạm Văn B) 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 10-12-2023 đến ngày 15-12-2023 là 05 ngày, được quy đổi thành 15 ngày cải tạo không giam giữ; bị cáo còn phải chấp hành 05 tháng 15 ngày cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện V, tỉnh Nam Định nhận được Quyết định thi hành án.

3. Giao các bị cáo Đỗ Văn Đ, Lại Ngọc Qu và Phạm Ngọc Th(tên gọi khác Phạm Ngọc Kh) cho Ủy ban nhân dân xã T K, huyện V, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo.

Giao bị cáo Đỗ Chung D cho Ủy ban nhân dân phường Bình Minh, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo.

Giao bị cáo Phạm Văn Ch (tên gọi khác Phạm Văn B) cho Ủy ban nhân dân thị trấn Ít Ong, huyện Mường La, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo.

4. Các bị cáo phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.

5. Miễn khấu trừ một phần thu nhập cho các bị cáo Đỗ Văn Đ, Đỗ Chung D, Phạm Ngọc Th(tên gọi khác Phạm Ngọc Kh), Lại Ngọc Qu và Phạm Văn Ch (tên gọi khác Phạm Văn B).

6. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu cho tiêu hủy 01 bộ tú lơ khơ 52 cây và 01 chiếu cói màu nâu đã qua sử dụng.

Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc 7.070.000đ (Bẩy triệu không trăm bẩy mươi nghìn đồng).

(Vật chứng đang được Qu lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26-02-2024, giữa Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện V; theo Ủy nhiệm chi số 01, ngày 26-02-2024).

7. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, Qu lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Đỗ Văn Đ, Đỗ Chung D, Phạm Ngọc Th(tên gọi khác Phạm Ngọc Kh), Lại Ngọc Qu và Phạm Văn Ch (tên gọi khác Phạm Văn B); mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

8. Quyền kháng cáo: Các bị cáo Đỗ Văn Đ, Đỗ Chung D, Phạm Ngọc Th(tên gọi khác Phạm Ngọc Kh), Lại Ngọc Qu và Phạm Văn Ch (tên gọi khác Phạm Văn B) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ