vanban.org

Bản án 09/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau Tuyên án 21/02/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2024/HS-ST
Ngày 21 tháng 02 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thành Quang

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Duyên Văn Hiền

2/ Ông Huỳnh Văn Tới

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Nga Muội - Là Thư ký viên, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dần - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2024, đối với bị cáo:

- Thạch Quốc H, Sinh ngày: 31/12/2006 tại Cà Mau.

Nơi thường trú: Không có; nơi ở hiện tại: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Khơ Me; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Thạch Văn Ú và bà: Mạc Thị C; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị bắt ngày 21/01/2024, sau đó đến ngày 22/01/2024 chuyển sang tạm giam đến nay (bị cáo H bị tạm giam có mặt).

- Người đại diện cho bị cáo: Bà Lê Thị B, sinh năm 1963 (Có mặt), cư trú: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Người bào chữa: Bà Võ Bé N (Có mặt) – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh C.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Lê Thị B, sinh năm 1963 (Có mặt), cư trú: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Anh Đồng Trọng N1, sinh năm 2002 (Vắng mặt), cư trú: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 19 giờ 40 phút ngày 05/4/2023, Tổ tuần tra Công an huyện T bắt quả tang Mai Duy K điều khiển xe mô tô biển số 69N1–135.04 chở Thạch Quốc H đang cầm trên tay 01 cái nỏ thuỷ tinh và gói thuốc lá hiệu HERO, bên trong có 01 bịch nylong màu trắng hình chữ nhật, chứa chất rắn màu trắng nghi là ma tuý tại đoạn lộ bờ Nam S thuộc Khóm D, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Kết quả điều tra xác định:

Khoảng 14 giờ ngày 05/4/2023, H và K nhậu cùng B1 và N1 tại quán C2 thuộc Khóm D, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau. Trong lúc nhậu, K rủ H hùn tiền mua ma tuý sử dụng.

H đồng ý và mượn xe Yamaha biển số 69N1–135.04 của N1 để cùng K đi mua ma tuý. Khoảng 16 giờ, H điều khiển xe chở K đi đến chợ X2, thuộc Khóm F, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau mua ma tuý.

K đi vào hẻm gặp một người phụ nữ tên X để hỏi mua ma tuý, nhưng X nói không có bán, chỉ K ra lộ Bờ Nam S gặp Huy M để mua.

K quay lại xe, chở H đến đoạn ngang cà phê Thủy T gặp một thanh niên tên Huy M. Huy M đưa cho K 01 gói thuốc lá hiệu Hero, bên trong có 01 bịch nylong màu trắng hình chữ nhật, chứa ma tuý. K trả cho Huy M 400.000 đồng.

Sau khi nhận ma tuý, H và K điều khiển xe đến khu vực cầu X để mua cây nỏ (dụng cụ dùng sử dụng ma tuý); K đi bộ xuống cầu X gặp người phụ nữ tên Thúy K1 mua cây nỏ giá 150.000 đồng.

Khi có cây nỏ, trên đường đi kiếm chỗ sử dụng ma tuý trên tuyến lộ Bờ Nam S thuộc Khóm D, thị trấn S, thì H và K bị Cảnh sát giao thông ra hiệu dừng xe kiểm tra, phát hiện tay trái của H đang cầm chiếc nỏ thuỷ tinh và gói thuốc lá Hero bên trong có chứa ma tuý và bắt giữ. Tại Kết luận giám định số: 148/KL-KTHS ngày 08/4/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh C, thể hiện: Tinh thể màu trắng bên trong bọc nilon được hàn kín, niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu PS3, in mã số PS3 2110010 gửi giám định là ma túy đá, có tổng khối lượng 0,1092 gam, loại Methamphetamine (Methamphetamine là chất ma tuý nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ). Tại Kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 2735/KL-GĐĐT-C09B ngày 05/5/2023 của Phân viện Khoa học hình sự - Bộ C3 tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tại thời điểm giám định (tháng 4/2023) Thạch Quốc H có độ tuổi từ 16 năm 06 tháng đến 17 năm.

Vật chứng thu giữ: Ngoài khối lượng ma túy đã bị thu giữ nêu trên, khi bắt quả tang và trong quá trình điều tra, đã tạm giữ các đồ vật như:

01 điện thoại di động hiệu Samsung A20S màu xanh kèm sim số 0919.206.115.

01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Luvias màu trắng, xám, biển kiểm soát số 69N1-135.04.

Tại Cáo trạng số: 84/CT-VKS ngày 05/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên Cáo trạng số: 84/CT-VKS ngày 05/9/2023 và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, 91, 101 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo từ 01 đến 2 năm tù.

Về vật chứng: Căn cứ các điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, như sau:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì hình chữ nhật hoàn mẫu số 148/KL-KTHS ngày 08/4/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh C tên chữ ký Trần Phương V, Trần Anh K2, 08 dấu tròn màu đỏ.

Trả lại cho bà Lê Thị B: 01 điện thoại di động hiệu Samsung A20S màu xanh kèm sim số 0919.206.115.

Trả lại cho Đồng Trọng N1: 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Luvias màu trắng, xám, biển kiểm soát số 69N1-135.04.

Bị cáo không tham gia tranh luận bày luận tội của Viện kiểm sát, chỉ yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày:

Thống nhất với bày luận tội của Viện kiểm sát.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cần xem xét thêm các tình tiết, như bị cáo không biết chữ, khi phạm tội là người dưới 18 tuổi, nhận thức pháp luật hạn chế, cần áp dụng mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Đại diện cho bị cáo, bà Lê Thị B trình bày:

Thống nhất với ý kiến tranh luận của Người bào chữa.

Xin Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt thấp nhất cho bị cáo, để bị cáo sớm trở về nuôi dưỡng bà, bị cáo đã sinh sống với bà từ nhỏ, vì cha của bị cáo chết, hiện mẹ của bị cáo đang ở đâu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng:

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đồng Trọng N1 vắng mặt, nhưng không gây trở ngại cho việc xét xử, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn T1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không ai có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi:

Về tội danh:

Xét, lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo ở giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T lập, cùng các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 19 giờ ngày 05/4/2023, tại đoạn lộ bờ N2 thuộc Khóm D, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau, bị cáo có hành vi tàng trữ ma tuý mục đích để sử dụng, thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T kết hợp Công an thị trấn S bắt quả tang và thu giữ toàn bộ khối lượng ma túy. Tại Kết luận giám định số: 148/KL-KTHS ngày 08/4/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh C, thể hiện: Tinh thể màu trắng bên trong bọc nilon được hàn kín, niêm phong trong túi niêm phong ký hiệu PS3, in mã số PS3 2110010 gửi giám định là ma túy đá, có tổng khối lượng 0,1092 gam, loại Methamphetamine. (Methamphetamine là chất ma tuý nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/08/2022 của Chính phủ). Tại Kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 2735/KL-GĐĐT-C09B ngày 05/5/2023 của Phân viện Khoa học hình sự - Bộ C3 tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tại thời điểm giám định (tháng 4/2023) H có độ tuổi từ 16 năm 06 tháng đến 17 năm.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có tổng khối lượng 0,1092 gam loại Methamphetamine của bị cáo H nhằm mục đích sử dụng đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

c) Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Từ đó, Cáo trạng số: 84/CT-VKS ngày 05/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Văn Thời truy tố và lời buộc tội của Viện kiểm sát đối với bị cáo tại phiên tòa có căn cứ, đúng người, đúng tội, phù hợp với quy định của pháp luật.

Về áp dụng hình phạt:

Ma túy là chất gây nghiện, là nguyên nhân làm suy giảm sức khỏe, suy thoái nòi giống. Tệ nạn ma túy còn được xem là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội, tội phạm, làm lan truyền đại dịch HIV/AIDS, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Việc, bị cáo tàng trữ ma tuý để sử dụng trái phép chẳng những làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của bản thân, mà còn là sự tiếp tay cho lượng nghiện ma túy ngày càng tăng, làm ảnh hưởng lớn đến công tác đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma túy mà Nhà nước, xã hội đang ra sức thực hiện.

Nhưng, vì thoả mãn nhu cầu cá nhân bị cáo bất chấp pháp luật để tàng trữ trái phép chất ma tuý nhằm mục đích sử dụng mà Nhà nước đã nghiêm cấm, đây là lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước.

Do đó, cần phải được xử nghiêm và áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội theo đề nghị của Viện kiểm sát và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo không biết chữ và khi phạm tội là người dưới 18 tuổi nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, nên cần được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đồng thời cần áp dụng các nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo các điều 91, 101 Bộ luật Hình sự theo đề nghị của Người bào chữa, là có cơ sở.

Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì hình chữ nhật hoàn mẫu số 148/KL-KTHS ngày 08/4/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh C tên chữ ký Trần Phương V, Trần Anh K2, 08 dấu tròn màu đỏ.

Trả lại cho bà B:

01 điện thoại di động hiệu Samsung A20S màu xanh kèm sim số 0919.206.115.

Trả lại cho Đồng Trọng N1:

01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Luvias màu trắng, xám, biển kiểm soát số 69N1-135.04.

Đối với, Mai Duy K rủ và thống nhất với H hùn tiền đi mua ma tuý về sử dụng. Tuy nhiên, do K chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý về trách nhiệm hình sự là có cơ sở.

Đối với Nguyễn Bé X1:

Quá trình điều tra có căn cứ xác định Xiếu không có liên hệ mua ma tuý cho K, Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý là có cơ sở.

Đối với các đối tượng Huy Miên, T:

Đến nay chưa xác định được nhân thân lai lịch, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tách ra tiếp tục xác minh làm rõ, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với Đồng Trọng N1 có cho H và K mượn xe, nhưng không biết H và K mượn xe đi mua ma tuý, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý là có cơ sở.

Về án phí: Do bị cáo (là người chưa thành niên) cần buộc bị cáo liên đới với bà Lê Thị B (bà ngoại, cũng là người đại diện cho bị cáo) phải nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Căn cứ:

Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 91, 101 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Thạch Quốc H 09 (chín) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Thời hạn tù của bị cáo được tính kể từ ngày 21/01/2024.

2/ Về xử lý vật chứng:

Căn cứ các điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy:

01 phong bì hình chữ nhật hoàn mẫu số 148/KL-KTHS ngày 08/4/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh C tên chữ ký Trần Phương V, Trần Anh K2, 08 dấu tròn màu đỏ.

Trả lại cho bà Lê Thị B: 01 điện thoại di động hiệu Samsung A20S màu xanh kèm sim số 0919.206.115.

Trả lại cho Đồng Trọng N1: 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Luvias màu trắng, xám, biển kiểm soát số 69N1 - 135.04.

(Vật chứng được Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn T1 đang quản lý tại Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/9/2023).

3/ Về án phí:

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Thạch Quốc H liên đới với bà Lê Thị B phải nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).

4/ Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo Thạch Quốc H, bà Lê Thị B được quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh Đồng Trọng N1 được quyền kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ