- Tranh chấp gì? án hình sự — "T chiếm đoạt tài sản - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 175 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ BỒNG TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 09/2024/HS-ST Ngày 30 - 01 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ BỒNG, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Minh Thuận
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Bà Hồ Thị Hồng – Nghề nghiệp: Hiệu trưởng Trường dân tộc nội trú huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi
+ Bà Nguyễn Lê Minh Nhu – Nghề nghiệp: Phó Ban Kinh Tế - Xã hội HĐND huyện Trà Bồng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Văn Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 01 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2024, đối với bị cáo:
- Nguyễn Tấn T, sinh ngày 16 tháng 7 năm 1999; tại Quảng Ngãi.
Nơi cư trú: TDP1, thị trấn Trà X, huyện Trà B, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn A và bà Nguyễn Thị T; tiền án: Không; tiền sự: 01 tiền sự theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 4288/QĐ-XPHC ngày 26/10/2022 của Chủ tịch UBND huyện Trà Bồng; bị bắt, tạm giam ngày 17/10/2023, có mặt tại phiên tòa.
*Người bào chữa:
- Bà Phạm Thị Hà C – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Quảng Ngãi, là người bào chữa cho bị cáo. (có mặt)
* Bị hại:
- Chị Huỳnh Thị Mỹ T, sinh năm 1983. Địa chỉ HKTT: TDP Hương L, Thị trấn Hương A, huyện Q S, tỉnh Quảng Nam. (vắng mặt)
* Người có quyền lợi, N vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Nguyễn Tấn A, sinh năm 1967. Địa chỉ: TDP1, thị trấn Trà X, huyện Trà B, tỉnh Quảng Ngãi. (có mặt)
- Anh Lê Văn N, sinh năm 1983. Địa chỉ HKTT: KDC15, TDP4, thị trấn Trà X, huyện Trà B, tỉnh Quảng Ngãi. (vắng mặt)
Nơi ở hiện nay: TDP1, thị trấn Trà X, huyện Trà B, tỉnh Quảng Ngãi.
- Anh Nguyễn Phước Tri T, sinh năm 1996. Địa chỉ: KDC7, TDP4, thị trấn Trà X, huyện Trà B, tỉnh Quảng Ngãi. (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Hữu Q, sinh năm 2007. Địa chỉ: Thôn 5, xã Trà T, huyện Trà B, tỉnh Quảng Ngãi. (vắng mặt)
Người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Hữu Q: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1967 (cha ruột). Địa chỉ: Thôn 5, xã Trà T, huyện Trà B, tỉnh Quảng Ngãi. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 15/8/2023, Nguyễn Tấn T đến quán cà phê Ngọc Hoa Viên, ở tổ dân phố 5, thị trấn Trà X, để uống nước, chơi game trên điện thoại. Vì T không có điện thoại nên có mượn chị Huỳnh Thị Mỹ T, nhân viên pha chế nước uống tại quán cà phê 01 (một) cái điện thoại nhãn hiệu OPPO để chơi game. T dùng điện thoại OPPO chơi game đến khoảng 02 giờ ngày 16/8/2023 thì điện thoại hết pin, chơi game hơi bị giật “lag” nên T hỏi mượn chị T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, loại XS MAX, màu vàng đồng, là điện thoại cá nhân của chị T để tiếp tục chơi game, thì chị T đồng ý. Đến khoảng 03 giờ 20 phút cùng ngày, thì chị T nói T trả lại điện thoại để chị T đóng cửa quán và đi ngủ, thì T xin mượn thêm điện thoại 10 phút vì T đang chơi dỡ game, chị T đồng ý. Đến khoảng 03 giờ 40 phút cùng ngày, T sợ chị T lấy lại điện thoại nên lấy điện thoại của chị T rời khỏi quán. Chị T sau đó phát hiện và mượn điện thoại của Nguyễn Đình Kỳ gọi vào số trong điện thoại IPHONE XS MAX của chị T, T nghe máy và có hứa với chị T sẽ trả ngay nhưng sau đó có người đòi tiền T, vì không có tiền trả nợ nên T nảy sinh ý định bán điện thoại của chị T để có tiền trả nợ, đến sáng 16/8/2023 T mang điện thoại di động trên đến cửa hàng điện thoại di động Lê Khang, ở tổ dân phố 1, thị trấn Trà X, huyện Trà Bồng để bán cho anh Lê Văn N, chủ cửa hàng với số tiền 5.000.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 07/KL-HDDGTS, ngày 02/10/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Trà Bồng, kết luận: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, loại XS MAX, màu vàng đồng, số Sê-ri: F2LXMWU8KPHF, đã qua sử dụng có giá trị 6.000.000 đồng.
Cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 20 tháng 12 năm 2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Bồng tỉnh Quảng Ngãi đã truy tố Nguyễn Tấn T về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Bồng phát biểu quan điểm luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 175; Điều 38; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn T mức án từ 06 đến 12 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.
Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
Ý kiến của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 175; Điều 38; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn T mức án 04 tháng tù.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trà Bồng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Bồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tấn T đã khai nhận T bộ hành vi phạm tội của mình:
Ngày 15/8/2023, bị cáo có mượn chị T 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE, loại XS MAX, màu vàng đồng. Sau đó, vì không có tiền trả nợ nên bị cáo đã nảy sinh ý định bán điện thoại của chị T, đến sáng 16/8/2023 bị cáo bán điện thoại cho anh Lê Văn N với số tiền 5.000.000 đồng.
Lời khai của bị cáo là phù hợp với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở để kết luận bị cáo phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tội phạm được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.
Về tính chất, mức độ phạm tội:
Bị cáo Nguyễn Tấn T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, với mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác trái pháp luật, không những gây thiệt hại cho người bị hại mà còn gây mất an ninh trật tự trên địa bàn.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền sự, theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 4288/QĐ-XPHC ngày 26/10/2022 của Chủ tịch UBND huyện Trà Bồng về hành vi “Không đăng ký ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự mà cho vay tiền không cầm cố tài sản nhưng lãi suất cho vay vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự”.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, cần xem đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, gia đình bị cáo bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo. Do vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
Trên cơ sở xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và yếu tố nhân thân, tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo đã có hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, ngoài ra bị cáo còn có 01 tiền sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.
Ngoài ra, ngày 16/8/2023, Nguyễn Tấn T có hành vi chiếm đoạt 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y16, màu đen của anh Nguyễn Hữu Q. Giá trị tài sản mà T chiếm đoạt của anh Nguyễn Hữu Q không đủ định lượng cấu thành tội phạm nên Công an huyện Trà Bồng đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Đề nghị của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo về mức hình phạt không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong
Xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo là hộ cận nghèo, có đơn đề nghị được miễn án phí nên được miễn theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi N vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 175; Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn T 01 (một) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 17 tháng 10 năm 2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
3. Về vật chứng trong vụ án: Đã xử lý xong
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo được miễn án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi, N vụ liên quan đến vụ án, người đại diện của người có quyền lợi, N vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, N vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - Sở tư pháp; - VKSND huyện Trà Bồng; - CQĐT CA huyện Trà Bồng; - CQ THAHS CA huyện Trà Bồng; - Nhà tạm giữ CA huyện Trà Bồng; - Chi cục THADS huyện Trà Bồng; - Bị cáo; người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Minh Thuận |